RSS

Tag Archives: gà tre

Gà vảy cá Sebright – hoa độc trong vườn!

Tom Franklin - http://www.angelfire.com/ab/sebrightbantam/pageone.html

Gà vảy cá (Sebright) – Giống gà tre độc đáo
Một đàn gà vảy cá luôn trông rất ấn tượng ở bất kỳ miền thôn dã nào. Tại rất nhiều nơi, số lượng gà vảy cá xuất hiện nhiều hơn bất kỳ giống gà nào khác. Vậy điều gì làm nên sự độc đáo của gà vảy cá?

Độ tương phản của bộ lông
Có hai biến thể màu được công nhận ở Bắc Mỹ, màu vàng (golden) và màu trắng (silver). Màu vàng thường phải đậm và đều, trong khi màu trắng phải thực sự trắng. Gà vảy cá nổi tiếng bởi chất lượng của vảy cá tức viền lông. Mỗi sợi lông đều có viền đen, khiến cho màu nền trông sáng và nổi bật hơn.

Mã lại (hen feathering)
Gà vảy cá trống có lông mã lại – điều đó có nghĩa lông mã và lông đuôi tương tự như gà mái và không hề có lông phụng vốn là đặc điểm nhận dạng ở gà trống nói chung. Ngoài gà vảy cá, giống gà Campine cũng có lông mã lại.

Mồng trà màu dâu tằm
Tất cả gà mái đều có mồng trà màu “dâu tằm” hay tím sẫm; dẫu khó được như vậy, hầu hết gà trống xịn đều có mồng phớt màu dâu tằm và viền mắt sẫm (dark eye cere). Vì vậy hãy quên đi kiểu mồng đỏ “thường thường”! Đặc điểm này bổ sung vào sự độc đáo của giống gà tuyệt vời này.

Kích thước gà vảy cá rất nhỏ
Gà vảy cá là giống gà tre chính hiệu (true bantam) bởi không hề có phiên bản to hơn. (Lưu ý, một số giống gà to con như gà Mỹ, gà Pheonix… đều có phiên bản giống hệt nhưng nhỏ con hơn).

Là giống gà tuyệt vời để nuôi kiểng, một bầy gà vảy cá cần rất ít thức ăn so các giống gà khác. Điều này đặc biệt đúng trong trường hợp gà được thả rông trong sân, vườn hoặc ngoài đồng. Không gì bận rộn hơn gà vảy cá bới tìm thức ăn trong sân vườn!

Kích thước nhỏ cũng giúp việc ôm gà rất dễ dàng. Trẻ em có thể chơi với chúng và một khi gà càng được chơi nhiều thì chúng càng dạn người.

Còn bây giờ, bạn đã hiểu vì sao mà gà vảy cá (Sebright) độc đáo chưa?


Hình vẽ một cặp gà vảy cá trắng trong Bản tiêu chuẩn (Standard of Perfection – 1905) của Hiệp hội Gia cầm Mỹ (American Poultry Assocciation)

Lịch sử

Dưới đây là một trong hai thuyết trái ngược về nguồn gốc của gà vảy cá.

Điểm thú vị là John Sebright cũng là người giới thiệu giống bồ câu Pygmy Pouter, một phiên bản tí hon của giống bồ câu Pouter Anh.

Tham khảoGolden and Silver Sebright Bantams, Bill Holland, pp. 2-3, American Bantam Association, 1980.

Vào khoảng 1800, Sir John Sebright quá cố bắt đầu lai tạo giống gà vảy cá (Sebright bantam). Việc lai tạo được thực hiện giữa một số giống gà tre phổ biến với giống gà Ba Lan (Polish fowl). Chúng được lai tạo mãi cho đến khi đạt được kích thước và đặc điểm mong muốn. Rồi tình cờ Sir John phát hiện thấy một con gà tre mã lại khi ông đi du lịch trong nước. Con gà trống mã lại này được lai với giống gà tre mới của ông do đó mà con cháu đời sau được thừa hưởng gien mã lại.

Theo cuốn “Poultry Chronicle”, Sir John kiếm được một con gà tre mái màu khét sữa ở Norwich: nó rất nhỏ với chân màu xám. Trong chuyến đó ông cũng mua được một con gà trống màu điều không có lông phụng với lông mã như gà mái ở Watford; và một con gà mái nhỏ tương tự như một con Hamburg vàng. Sau đó ông kiếm được một con gà trống nhạn từ Vườn Bách Thảo mà nhờ đó ông tạo ra biến thể trắng. Đây là mô tả về nguồn gốc của giống gà trước khi viền vảy cá xuất hiện. Chúng được gọi là gà tre công (pheasant bantam).

Sir John cũng thành lập một câu lạc bộ để thúc đẩy việc cải thiện giống gà của mình. Nó được đề cập trong cuốn “Poultry Chronicle” xuất bản năm 1855: “Sebright Bantam Club được thành lập từ cách nay 40 năm bởi Sir John S. Sebright quá cố và nhiều nhà chơi gà kiểng khác, những người đã nỗ lực hết mình để ghép bộ lông xinh đẹp của giống gà Ba Lan lên giống gà tre càng nhỏ càng tốt. Họ (Sir John, ông Stevens quá cố, ông Hollingworth quá cố, ông Garle và những người khác) bắt đầu công trình của mình bằng việc tuyển chọn những con gà Ba Lan tốt nhất và lai xa một cách cẩn trọng với gà tre, để dần đạt được mục tiêu của mình. Họ phải tuyển chọn những đặc điểm tốt nhất, loại bỏ lông bờm và lông đuôi dài, và giảm kích thước, duy trì hết sức có thể hình dáng thực sự khác biệt của giống gà. Điều này gần như đã thành công, nhưng thỉnh thoảng vẫn phải lai xa với gà tre đen, rồi liên tục lai cận huyết để dòng gà ổn định. Câu lạc bộ tổ chức họp mặt thường niên vào ngày thứ ba của tuần thứ 2 trong tháng 2 ở Brick Lane, nhưng vài năm sau chuyển vể tiệm cà-fê Gray’s Inn ở Holborn, hồi đó luôn hạn chế kết nạp người lạ, sau khi trọng tài trao giải. Câu lạc bộ khá khép kín, mọi thành viên mới đều phải được một thành viên cũ giới thiệu và bầu chọn. Lệ phí thành viên là 2 gi-nê mỗi năm đối với Thành viên Vàng, và cũng vậy với Thành viên Bạc để lấy inh phí làm giải thưởng. Tất cả gà phải là tài sản thực sự của người dự thi, được lai tạo bởi chính người đó và dưới một năm tuổi. Gà trống dưới 620 gram, gà mái dưới 510 gram. Gà trống không được có lông bờm dài, không có lông mã (mã lại), không có lông phụng; chúng phải có mồng trà, lưng ngắn, đầu và đuôi cao gần như nhau; màu nền, gồm màu vàng (gold) và trắng (silver) phải sạch và mỗi lông đều phải có viền vảy cá màu đen tuyền (không được có bông, đốm). Lông đuôi cũng phải có viền (tuy rất hiếm) và các viền ở cánh phải đen và rõ. Gà mái cũng phải có đặc điểm tương tự”.

Đây là thuyết thứ hai về nguồn gốc của gà vảy cá cùng với thông tin về sự phát triển của giống gà.

Tham khảo: Frank L. Gary, Sebright History – Golden and Silver Sebright Bantams, Bill Holland, pp. 24-25, American Bantam Association, 1980.

Moubray trong cuốn Domestic & Ornamental Poultry bình luận về nguồn gốc của gà vảy cá như thế này:

“Mặc dù người ta thường cho rằng John S. Sebright, cựu thành viên hội đồng hạt Herfordshire, Anh là ông tổ của gà vảy cá, và rằng nhờ quá trình lai tạo lâu dài và cẩn trọng hàng loạt giống gà tre phổ biến cùng với một số kỹ năng bí mật mà không ai có thể lý giải, đã tạo ra một giống gà hoàn toàn mới và khác biệt. Sir John không bao giờ công bố ông tạo ra gà vảy cá khi nào cũng như ông có phải là ông tổ hay không. Các văn bản chỉ lưu ý rằng vào thời mà giống gà xuất hiện, không có tuyên bố nào cho thấy Sir John là ông tổ của giống gà, mà ngược lại trong một văn bản xuất hiện ngay sau khi gà vảy cá ra đời, tác giả nói rằng giống gà đã hình thành, và Sir John là “một trong số những tay chơi chủ chốt” của giống gà này, dẫn đến kết luận rằng chúng bắt nguồn từ phương đông và có lẽ được Sir John nhập về và phổ biến một cách rất thành công”

Vào thời đó, gà vảy cá cực nhỏ, trọng lượng được giới hạn khoảng từ 850 đến 900 gram một cặp.

Tiêu chuẩn gà Mỹ (American Standard of Excellence) lần đầu xuất bản vào năm 1874 mô tả chúng như là gà “Laced Sebright” vàng và trắng. Biến thể vàng phải có màu vàng kim đậm và biến thể trắng màu trắng tinh. Dái tai được gọi là “tai điếc” và màu trắng. Da đầu được mô tả có màu đỏ, đương nhiên dính dáng đến mồng trong mô tả kế đó về lông đầu. Lông cánh gà trống được mô tả “chóp rất xệ, gần như chạm đất”. Gà trống trên 740 gram, gà mái trên 620 gram sẽ bị loại, không thấy quy định trọng lượng trống và mái non.

1875 – Tên được chuyển thành gà vảy cá (Sebright) vàng và trắng. Không thấy quy định màu của mồng. Gà trống trên 790 gram, gà mái trên 680 gram sẽ bị loại. Không có quy định về trọng lượng nào khác. Coi như 2 giống riêng biệt.

1879 – Lần đầu tiên, trọng lượng chuẩn được xác định gà trống 740 gram, gà mái 680 gram, gà mái tơ 620 gram.

1883 – Lần đầu tiên, tích được mô tả “đỏ tươi”. Cánh gà trống được mô tả “cánh xệ, nhưng không chạm đất”.

1888 – Trọng lượng điều chỉnh thành gà trống 740 gram, gà mái 620 gram, gà trống tơ 620 gram, gà mái tơ 570 gram.

1889 – Một giống phân làm hai biến thể, vàng và trắng. Lần đầu tiên, mô tả hình dáng và màu sắc được định nghĩa một cách riêng biệt.

1893 – Dái tai chuyển từ màu trắng thành “màu sắc không quan trọng đối với cả hai biến thể”.

1905 – Lần đầu tiên, Franklane L. Sewell (1905) vẽ hình minh họa gà vảy cá trống và mái trắng.

1910 – Bộ lông màu vàng kim (gold) chuyển thành vàng (yellow), bỏ từ “đậm”. Hình minh họa mới được thực hiện bởi Arthur O. Schilling (1910). Màu sắc chung rất nhạt chủ yếu do số lượng lông giảm và viền lông rất nhuyễn. Lần đầu tiên, đuôi gà trống và gà mái được mô tả phải đạt 70 độ so với đường ngang. Cá thể lố 100 gram so với trọng lượng chuẩn sẽ bị loại. Màu mắt của biến thể vàng chuyển từ sáng sang nâu, mặt và mồng của biến thể trắng chuyển từ đỏ tươi sang tím hanh đỏ.

1915 – Dái tai của cả hai biến thể chuyển thành “ưu tiên tím hanh đỏ”. Biến thể vàng chuyển từ “vàng” (golden yellow) sang “vàng thau” (golden bay). Hình vẽ gà vảy cá trắng mới được minh họa bởi Arthur O. Schilling (1914). Trong hình mới này, viền vảy dường như hơi dày hơn so với minh họa trước đó.

1920 – Dáng và lưng chuyển từ “ngắn” sang “rất ngắn”.

1952 – Hình minh họa mới bởi Arthur O. Schilling (1952).

1965 – Tiêu chuẩn của Hội gà tre Mỹ (American Bantam Association) ra đời. Đây là lần đầu tiên, bản mô tả hoàn chỉnh về hai biến thể gà vảy cá xuất hiện, cả về hình dáng lẫn màu sắc. Lần đầu, mọi thuật ngữ đều được định nghĩa một cách rõ ràng. Nhiều thuật ngữ trước đây chưa hề xuất hiện trong bất kỳ bản tiêu chuẩn nào bao gồm tiêu chuẩn của Hiệp hội Gia cầm Mỹ, Anh, Hà Lan, Đức và Pháp. Hơn nữa, những thuật ngữ hoàn chỉnh được áp dụng cho cả những giống gà tre khác, không thuật ngữ ngoại lệ nào dành riêng cho gà vảy cá.

Đánh giá

Theo trọng tài Rico Sebastianelli (28-3-1999)
Rico Sebastianelli, một trọng tài đáng kính, đã phát biểu về việc chấm điểm gà vảy cá như sau:

Với tôi điểm quan trọng nhất là “dáng chuẩn” (type). Tôi luôn quan tâm đến dáng. Gà vảy cá có lẽ hơn các giống gà tre khác ở điểm mà tôi gọi là “dáng chuẩn”. Tôi gọi nó là “dáng chữ S”, khi nhìn vào ngực, cổ và đầu. Bạn có thể có gà tre lông “vảy cá” nhưng một khi không có dáng chữ S thì chúng chưa thể là gà vảy cá (Sebright) được.

Điều nữa tôi để ý ở gà vảy cá là vùng đầu. Tôi ám chỉ đến bộ mặt màu dâu tằm ở gà mái, với mắt và mồng màu tối sẫm dễ thương. Ở gà trống, màu mắt cũng quan trọng. Mắt màu sẫm với mồng sẫm hơn. Mồng đỏ tươi là không đạt.

Hình lông cũng quan trọng. Bạn muốn kiểu lông ngắn và rộng, chóp lông tròn và không được nhọn.

Tôi thà chọn con gà dáng đẹp mà viền vảy cá xấu còn hơn con gà dáng xấu mà viền vảy cá đẹp. Dĩ nhiên, tôi cũng muốn thấy viền vảy cá sạch, đẹp hơn là lem nhem nhưng nhớ đừng đổ quá nhiều công sức vào đó. Tôi cũng muốn nói với các nhà lai tạo mới rằng, luôn xây nhà trước (chọn dáng) rồi mới sơn phết nó sau (nghĩa là chọn màu).

Theo trọng tài Paul F. Kroll (3-5-1999)
Tôi được Hiệp hội Gia cầm Mỹ (APA) cấp bằng đánh giá gà lớn và gà tre từ năm 1976. Tôi lai tạo gà tham dự triển lãm từ đầu những năm 1960 với một số kinh nghiệm từ đầu những năm 1950. Tôi chưa hề lai tạo và nuôi dưỡng gà vảy cá nhưng có kinh nghiệm nuôi một số giống gà tre “chính hiệu” như Rosecomb, d’Uccles và tình yêu đầu đời, gà tre nhật. Tôi luôn nuôi gà tre nhật; cùng với nhiều nhà lai tạo khác, tôi học cách đánh giá thông qua việc nuôi dưỡng và lai tạo chúng (khi thú nhận mình chưa bao giờ nuôi gà vảy cá, tôi không có ý chối bỏ trách nhiệm mà chỉ muốn nói rằng quan điểm của tôi là quan điểm của một trọng tài và người quan sát, chứ không phải của nhà lai tạo).

Tôi từng chấm điểm gà vảy cá ở một số hội chợ và cả triển lãm quốc gia nữa. Tôi luôn ấn tượng trước hình dáng nổi bật, nhí nhảnh và bộ lông khác biệt của gà vảy cá. Tôi có thể khẳng định rằng nhiều trọng tài thường sai sót khi chấm gà nhỏ bởi vì đấy là những con dáng chuẩn và sát với hình vẽ nhất. Gà lớn hơn (có lẽ kích thước/trọng lượng chính xác – tôi không biết nếu chưa đem cân) luôn trông có vẻ “lưng quá dài” khiến thân hình như quả thủy lôi, không như độ cong trên hình vẽ.

Tôi công nhận đấy là quan điểm cá nhân. Đấy là những điều tôi được học từ người thầy chính của mình, trọng tài Charles M. Burmaster. Charlie là người yêu thích nhiều loài sinh vật cảnh và cùng với Alex Duffy điều hành triển lãm Madison Square Garden danh tiếng vào năm ngoái.

————————————————————————————–

Ghi chú (vnrd)
*Thuyết cho rằng nguồn gốc gà vảy cá ở phương đông là có căn cứ bởi vì từ bao đời nay, người ta đã biết về gà nòi mã lại.

* Một số biến thể màu

Màu vàng (golden)

Màu trắng (silver)

Màu khét sữa (buff)

 
 

Thẻ: , , , ,

Gà tre râu d’uccle

Lịch sử giống gà tre chân lông
Gà tre râu d’uccle – còn gọi là barbu d’uccle (Uccle là địa danh ở Bỉ) – được lai tạo vào đầu thế kỷ 20 từ những con gà nhỏ, có lông ở chân vốn xuất hiện hàng trăm năm trước trên toàn cõi châu Âu. Trên thực tế, những con gà như vậy từng được Aldrovani mô tả vào đầu thế kỷ thứ 17 trong cuốn “Ornithologica”. Trong đó, Aldrovani phát biểu rằng gà trống có cổ và lưng màu nâu, cánh đen và ngực đen điểm đốm trắng, phần sau với đuôi trắng, mồng hoa (rosecomb) nhỏ và chân vàng với 5 ngón.

Dẫu đặc điểm chân vàng 5 ngón không trùng với hình minh họa, những đặc điểm khác đều có liên quan mật thiết đến tổ tiên ban đầu của giống gà tre râu d’uccle.


Gà chân lông được mô tả bởi Aldrovani.

Từ thời đó chúng ta đã có thể tìm thấy mọi bằng chứng về tổ tiên của giống gà tre râu d’uccle. Vài bằng chứng đáng chú ý: một bức vẽ của Albert Cuyp (1620 – 1691) thể hiện một con gà tre bốt (booted bantam – gọi nôm na la đi ủng, đi bốt) mái. Họa sĩ người Anh Albin vẽ những con gà bốt trông giống như những con mà chúng ta biết ngày nay. Cũng có một mô tả về những con gà nhạn rất nhỏ với lông chân trong “Sách về gia cầm” của Tegetmeyer từ năm 1866. Có một ghi nhận về những con “gà tre nhạn đi bốt” tham gia triển lãm Crystal Palace ở Luân Đôn vào năm 1833.


Gà tre d’uccle và everberg, vẽ bởi Delin vào năm 1950.

Hugo du Roi, chuyên gia gà người Đức (cái tên tiết lộ gốc gác Pháp của ông), trưng bày 5 cặp “millefleur”(“vạn hoa”) tại Triển lãm quốc gia Đức vào năm 1893. Entwistle viết trong quyển sách “Gà tre” từ năm 1894 rằng ở nước Anh, người ta đã lai tạo giống gà tre nhạn bốt.

Hàng chục những phát biểu như vậy xuất hiện trong các sách về gia cầm; tôi chỉ đưa ra một vài ví dụ. Từ đầu thế kỷ 20, những nhà lai tạo bắt đầu tuyển chọn những con gà dễ thương này dựa vào các đặc điểm vốn có của chúng.


Gà tre râu d’uccle millefluer ở Hà Lan, 1990.

Sự hình thành giống gà tre râu barbu d’uccle
Vào năm 1910, có 5 giống gà chỉ khác nhau đôi chút.

Người Hà Lan lai giống “sabelpoot krielen” mà ban đầu chúng không có râu, mặc dù vào năm 1910 họ đã nhập giống gà râu từ Bỉ và kể từ đó, gà có râu hay không đều được công nhận.

Người Đức tạo ra giống “federfussiges zwerghuhn”, cũng có râu hoặc không râu và chỉ khác giống gà sabelpoot Hà Lan đôi chút.

Một giống gà rất giống nữa là “boot bantam” (gà tre bốt) do người Anh lai tạo.

Người Mỹ cũng chẳng chịu kém cạnh. Họ lấy cả gà tre râu d’uccle từ Bỉ lẫn gà tre bốt từ Anh và tạo ra giống gà tre bốt millefleur; giống gà trung gian giữa sabelpoot và d’uccle.


Một cặp millefleur của tác giả.

Michel van Gelder, một người Hà Lan giàu có sống ở Brussels, có một ý tưởng trước mắt. Ông muốn một con gà chân ngắn và mập mạp với lưng ngắn và bộ râu rậm. Hay nói cách khác, một con gà râu antwerp, nhưng chân có lông và mồng lá. Ông trưng bày giống gà mới này lần đầu vào năm 1905.


Frans Smets bắt đầu lai tạo biến thể chuối xám vàng (yellow birchen).


Dáng đầu của một con gà râu d’uccle chuối xám vàng (yellow birchen).

Phải nói rằng van Gelder có khả năng ấp và nuôi dưỡng trên một ngàn con gà mỗi năm và đã từng làm; nhờ vậy ông có rất nhiều gà để lựa chọn.

M. van Gelder được Robert Pauwels hỗ trợ và Louis van der Snickt tư vấn cho chương trình lai tạo của ông, người Bỉ nổi tiếng trong việc phát triển mọi thứ từ các giống chó cho đến gia cầm. Ý tưởng gốc của van Gelder là tạo ra giống gà tre râu chân lông antwerp. Ông tìm kiếm gà tre chân lông phù hợp ở khắp nơi, thậm chí đến cả Rome. Ông cũng may mắn kiếm được cả tá gà tre chân lông, ít nhiều đều có râu từ bộ sưu tập của gia đình Verstraete. Số gà được chia sẻ giữa ông với người bạn Robert Pauwels.

Bắt đầu bằng cách lai giữa gà râu antwerp với gà tre chân lông, tiếp đó là quá trình lai cận huyết nghiêm ngặt, van Gelder đã thành công trong việc tạo ra dạng gà râu antwerp với chân rậm lông và mồng lá. Việc tại sao Van Gelder không chọn loại mồng hoa (rosecomb) hãy còn là câu hỏi với chúng ta sau nhiều năm trời; chỉ biết sau cùng ông nhắm đến việc lai tạo giống gà tre râu antwerp với chân lông. Và nếu chọn kiểu mồng hoa thì việc đó sẽ giúp ông thoát khỏi những thắc mắc dai dẳng. Dẫu sao thì giống gà tre râu d’uccle cũng đã ra đời.


Một con gà mái xanh đang nằm ổ.

Xuất hiện các biến thể d’uccle
Vào năm 1950, L. van der Snickt và M. van Gelder viếng thăm triển lãm Crystal Palace nổi tiếng ở Luân Đôn và mua một số gà tre bốt từ Entwistle. Một số con có râu và gốc gác từ Bỉ; những con khác không râu và gốc gác từ Hà Lan.

Với gia sản mới này, van Gelder đã thành công trong việc tạo ra hàng loạt biến thể màu mới cho giống gà râu của mình trong không đầy 4 năm. Đầu tiên là biến thể “millefleur” (“vạn hoa”), nhưng từ năm 1906 ông cũng trưng bày các màu trắng, đen và cú vằn (cuckoo).

Tại Hội chợ Quốc tế ở Brussels vào năm 1909, C.S van Gink, một họa sĩ và chuyên gia về gia cầm nổi tiếng người Hà Lan đã kết tội van Gelder lai giống gà sabelpoot của Hà Lan với đặc điểm râu chỉ để gọi nó là “giống gà Bỉ”. Những điều như thế này làm vẩn đục thú chơi, hơn nữa chính người Hà Lan đã nhập gà d’uccle để tạo ra gà sabelpoot râu.

Gà râu d’uccle phát triển nhưng không bao giờ phổ biến như gà râu antwerp, có lẽ bởi vì những nước láng giềng cũng có biến thể tương tự. Dẫu vậy nó hết sức được chào đón ở Anh. Sau năm 1912, nó trở nên phổ biến hơn so với gà bốt anh và sau Thế chiến I, “Câu lạc bộ gà tre Bỉ” được thành lập tại Anh và vẫn còn tồn tại đến ngày nay, trưng bày vô số con gà râu d’uccle hàng đỉnh!

Sau Thế chiến II, giống gà thoái trào ở Bỉ, mãi đến tận năm 1969, “Câu lạc bộ barbu d’uccle” mới được thành lập với tiêu chí phục hồi sự phổ biến của giống gà. Hiện tại, còn có một câu lạc bộ đặc biệt nữa “De Baardjes” (The Beardeds) với tiêu chí cải tiến ba giống gà râu của Bỉ kể cả các biến thể của chúng nữa.


Một con gà mái tơ màu sứ của Ben Verhoork (Hà Lan) tại Triển lãm Avicorni 2007.


Cận cảnh màu sứ và hoa văn. Biến thể màu này thường được lai với millefleur (bông) mà nó có thể tạo ra màu lavender trên cánh chậu của gà trống. Đời F1 có màu millefleur nhưng mang gien lavender. Màu nền dường như nhạt hơn, bởi vậy những nhà lai tạo kinh nghiệm có thể dễ dàng nhận ra những con mang gien lavender.

Biến thể màu
Ở Bỉ, giống gà này được công nhận có hơn 20 biến thể màu mặc dầu hầu hết đều có dạng “millefleur” – với màu nền đậm hơn so với sabelpoot – và dạng màu sứ (procelain). Những biến thể màu khác tương đối hiếm.

Vào năm 1969, chúng tôi bắt đầu lai màu sứ trắng-son (cổ màu golden); thực tế đó là millefleur mà màu đen được thay thế bằng màu trắng. Biến thể này có màu sắc độc đáo và xuất hiện với tỷ lệ rất nhỏ. Chúng tôi khuyên bạn nên lai với millefluer, bởi màu trắng có thể lấn lướt màu nền golden red.

Chúng tôi cũng lai màu sứ với màu nhạn, kết quả làm xuất hiện màu lavender, mà chỉ bao gồm hai màu isabelline (xám-vàng nhạt) và trắng. Biến thể màu này không ổn định và không được chuộng.


Màu sứ trắng son tại trại của Ben Verhoork (Hà Lan).


Cận cảnh biến thể màu sứ trắng son. Khi màu nền son/vàng trở nên quá nhạt, Ben lại lai với millefleur.

Có lẽ d’uccle màu cút (quail) được nhập khẩu từ Anh, sau này chúng ta không thấy nhiều ở đây nữa, nhưng lại thấy trong các triển lãm tại Anh. Biến thể màu cút làm giàu cho giống gà Bỉ, đặc biệt bởi vì nguồn gốc của màu này vốn từ các giống gà Bỉ, ngoại trừ gà tre Hà Lan (dutch bantam) cũng công nhận màu cút.


Gà tre râu màu cút tại trang trại của Frans Smets (Bỉ).


Gà trống màu cút & cút xanh.

Đặc điểm phân loại
Vào đầu thế kỷ 20, giống gà d’uccle được đặt một cái tên rất lãng mạn “fleur vivante de nos jardins” (nghĩa là “những bông hoa di động trong vườn”); cái tên cho thấy giá trị của chúng.

Như đề cập ở trên, nguyên nhân khiến giống gà xinh đẹp này kém phổ biến – theo chúng tôi – là bởi sự cạnh tranh của giống gà barbu d’antwerp ở Bỉ cũng như những giống gà tương tự khác ở các nước láng giềng.

Tuy nhiên, việc đánh giá – không phải lúc nào cũng ổn định – cũng là một trong những nguyên nhân. Không muốn ra vẻ “ta đây”, chúng tôi chỉ xin được đưa ra một nguyên tắc chủ yếu để phân biệt hai giống gà như sau: nếu kẻ một đường thẳng giữa hai chân, nhìn từ mặt bên. Với sabelpoot bạn sẽ thấy một hình ảnh rất hài hòa và cân đối, với một nửa nằm phía trước và một nửa nằm phía sau. Nhưng ở gà d’uccle lại khác: khoảng 60% nằm phía trước còn 40% nằm phía sau. Hơn nữa, barbu d’uccle có vẻ nhỏ nhắn và thấp hơn. Ba thùy râu rất đầy đặn và hướng về phía sau để kết hợp với lông bờm cong – mà chúng ta gọi là “boule” (“trái banh”). Thời trước người ta thường gọi đây là “đầu cú” (tête de hibou).


Hình phân biệt sự khác nhau giữa hai giống gà, đặc biệt là cái lưng dài ở sabelpoot. Bên trái là gà tre râu d’uccle do Delin vẽ, bên phải là gà sabelpoot do Van Gink vẽ.

Phân giống
Có một phiên bản gà d’uccle gọi là barbu de’everberg. Phân giống gà này tương tự như d’uccle về mọi khía cạnh nhưng hoàn toàn không có lông đuôi. Phiên bản này biến mất ngay sau Thế chiến II nhưng được tái tạo vào năm 1970. Cho đến tận ngày nay, rất ít người chuộng phiên bản này.


Gà mẹ millefleur với gà con millefleur và sứ.


Một cặp d’uccle sứ với bầy con. Mặc dù có râu nhưng gà trống vẫn lộ tích, có lẽ được lai với sabelpoot.


Bông (mottled) là một biến thể sẫm màu của millefleur. (Hình đen trắng một con gà tre râu d’uccle millefleur trên tạp chí SBHD tháng 3 năm 2003). Do vậy hai biến thể màu này có quan hệ rất gần gũi.

Chăm sóc
Để kết thúc, tôi xin nói rằng giống barbu d’ucccle đẻ tương đối tốt, trứng màu trắng nặng khoảng 35 gram. Gà mái có xu hướng nằm ổ và chăm con tốt. Giống gà không quá yếu ớt, mặc dù nên nhốt trong chuồng có mái, nền lót cát (khô ráo). Chạc có đường kính tối thiểu 5 cm và không đặt cao quá sàn 25 cm mặc dù chúng bay rất giỏi.

Để tham khảo thông tin về tiêu chuẩn, mỗi nước đều có tiêu chuẩn riêng, hãy tìm kiếm bản Tiêu chuẩn lưu hành ở nước bạn.

Qua bài viết, tôi hy vọng sẽ khiến bạn yêu thích giống gà xinh đẹp này, giống mà tôi đã lai tạo trong suốt 58 năm qua.


Gà bông tại trang trại của Ben Verhoork.


Gà mái tơ millefleur của Ben Verhoork.

Giới thiệu website:
Vereniging ter Promotie van Belgische Neerhofdieren: http://users.telenet.be/jaak.rousseau/ (có cả tiếng Anh)
The British Belgian Bearded Bantam Club: http://www.jatman.co.uk/belgians/
The Dutch Rare Belgium Bantam Breeders’ Club: http://www.zobk.nl/ (có cả tiếng Anh)
The Belgian bantam Club of Australia: http://users.tpg.com.au/channan/index.html

Sưu tầm

 
 

Thẻ: , , , , , ,

Ohiki – viên ngọc tí hon

Ohiki 尾曳 (尾=vĩ, 曳=duệ, “đuôi kéo lết”) là giống gà phổ biến và nhỏ con nhất trong số những giống gà đuôi dài ở Nhật Bản. Giống gà này xuất xứ từ tỉnh Koichi, cũng là quê hương của giống gà đuôi dài nổi tiếng onagadori. Cả hai dường như có quan hệ huyết thống, chẳng hạn chúng đều có một số đặc điểm chung, như thân mảnh, lông mềm như dải lụa và mọc nhanh. Một số ohiki được biết cũng thể hiện đặc điểm không thay lông ở một mức độ nào đó.

Khác phoenix/yokohama, ohiki là giống gà “lùn” chính hiệu và không tồn tại những biến thể lớn con hơn, chẳng hạn như giống gà phoenix/yokohama có hai biến thể, bình thường và nhỏ/gà tre (bantam). Trong phạm vi bài này, chúng ta sẽ gọi ohiki là gà lùn (dwaft) thay vì gà tre (bantam) bởi vì sự thiếu cân đối của các bộ phận trên cơ thể chúng. Gien lùn khiến gà có kích thước đầu bình thường, thân ngắn và chi nhỏ – đặc biệt hai chân dịch rất xa lên phía trước thân. Đây là đặc điểm trội, vì vậy gà con chỉ cần nhận một alen từ gà cha mẹ, và bởi vì đây không phải là kiểu di truyền liên kết – giới tính (sex-link), nên cả gà trống lẫn gà mái đều thể hiện kiểu hình gà “lùn”. Kiểu hình này rất giống với mô tả về một loại dị dạng tên là hypochondroplasia, tuy nhiên, lời khẳng định sau cùng xin được dành cho các nhà khoa học.

Gà ohiki thoạt nhìn cũng tương tự như giống gà tre nhật chabo 矮鶏 (矮=ải, 鶏=kê, “gà nhỏ”) nhưng nếu quan sát kỹ và nếu xét đến cả đặc tính sinh sản thì đây là hai giống gà hoàn toàn khác nhau.

Gà chabo có cả hai loại chân, cao và thấp, trong mỗi lứa gà. Nhiều con có cơ thể cân đối. Gien chân thấp ở gà chabo là gien độc (lethal). Bầy con có thể nhận gien chân thấp hoặc chân cao từ gà cha mẹ. Nếu bào thai nhận được hai alen chân thấp từ gà cha mẹ thì sẽ chết vào ngày thứ 18 khi còn trong trứng. Nhiều nhà lai tạo gà chabo lai gà trống chân cao với gà mái chân thấp. Điều này giúp gia tăng khả năng thụ tinh và giảm phần trăm trứng hư khi hai alen độc kết hợp với nhau.

Trong khi gien lùn hay gien chân thấp ở gà ohiki cũng là gien trội nhưng không chứa đựng yếu tố độc hại. Cặp gà ohiki cho ra bầy con mà toàn bộ là chân thấp và không trứng nào bị hư.

Giống gà đuôi dài tuyệt vời này được nhập khẩu vào châu Âu từ những năm 1990 và xuất hiện trong các triển lãm nội địa và quốc tế. Gà ohiki rất hiền lành, dễ nuôi và chăm sóc. Chúng dễ dàng chiếm được tình cảm của nhiều người ngay từ lần gặp đầu tiên.

Dẫu là giống gà thuần, gà ohiki cũng có nhiều biến thể khác nhau. Một số con thân dài trong khi một số con thân ngắn hơn và các đặc điểm này xuất hiện trong cùng một bầy. Những biến thể màu hiện tại bao gồm điều, chuối trắng và chuối lửa với mồng lá và tích trắng. Đuôi có kích thước 60-70 cm, 80-90 cm hay 150 cm tùy dòng. Dòng sau cùng được cho là thừa hưởng nhiều gien onagadori. Lông đuôi hao hao và mảnh như đuôi gà onagadori. Ở Nhật Bản, một số cá thể trông tương tự như phiên bản thu nhỏ của gà onagadori với lông đuôi dài đến cả mét rưỡi. Đa số gà ở châu Âu có kích thước đuôi cỡ trung bình 60-80 cm.

TIÊU CHUẨN GÀ OHIKI (NHẬT BẢN)

Mồng lá

Tai trắng

Mắt đỏ-nâu

Trọng lượng: gà trống 937 g, gà mái 750 g (gà tơ 600-750 g)

Màu lông: điều (black breasted red/red duckwing) hay chuối (black breasted silver/silver duckwing).

Góc đuôi 30 độ và kéo lê phía sau

Màu chân ô-liu, và màu này được phản ánh ở tai lẫn những lông đã ngừng phát triển và cứng dần. Chừng nào mà gà còn đang ở trong giai đoạn mọc lông măng, thì tai phản ánh màu chân và đây là đặc điểm rất đáng chú ý ở gà đuôi dài vì chúng cần nhiều tháng trời để “hoàn tất” giai đoạn phát triển lông đuôi. Bằng không, tai có màu trắng hanh vàng.

Mồng lá với kích thước trung bình so với gà nhỏ, không cực to như ở giống gà chabo. Kích thước mồng thay đổi tùy theo dòng hay màu nhất định. Lông cổ cực kỳ dầy và dài, gần như phủ kín vai. Lông mã dài ngắn khác nhau tùy cá thể, nhưng phải chấm đất và kéo lê từ 5 đến 15 cm. Độ dài lông mã rất khó điều khiển về mặt di truyền và đây là đặc điểm thường thấy ở tất cả các loài gà đuôi dài.

————————————————————————————–










Post bài sai Image_2 Image_3

Mã nhúng vào blog : 

 

Post bài sai Image_2 Image_3

Mã nhúng vào blog : 

 

Post bài sai Image_2 Image_3

Mã nhúng vào blog : 

 

Post bài sai Image_2 Image_3

Mã nhúng vào blog : 

Sưu tầm

 
 

Thẻ: , , , ,

Các Dáng Gà Tre Độc Đáo

Dưới đây là một số dáng gà phổ biến ở Malaysia mình sưu tầm được:

• Thân hình quả táo: Ngực lớn nhưng không ưỡng, chân đùi dài

• Thân hình “Rồng”: đầu kéo về sau, gần đụng đuôi, ngực ưỡng cao oai vệ, cánh thẳng (vuông góc với mặt đất, chân cao vừa)

• Thân hình “ốm, mảnh”: Ngực phẳng, nhỏ, ốm cao, có thể bỏ vừa vào một ống trụ tròn

• Thân hình quả banh: mập, tròn, chân thấp, cánh dài tạo với mặt đất góc chéo gần như 45 độ

Đối với người chơi ở các nước, thì dáng Rồng là một trong những form được người chơi ưa thích nhất và nó cũng là chuẩn ở hầu hết các cuộc thi Serama. Ở Malaysia, thật ra có ít nhất 9 form gà Serama, nhưng những dáng gà khác thì ít phổ biến hơn.

Dưới đây là một số form hình tiêu biểu.

Sưu tầm

 

Thẻ: , , ,

Sumatra – giống gà chọi đuôi dài xứ vạn đảo












Nguồn gốc
Giống gà sumatra (ayam gallak) bắt nguồn từ đảo Sumatra, Indonesia. Đây là một trong những giống gà chọi lâu đời nhất và có ảnh hưởng di truyền đáng kể lên những giống gà đá khác. Tuy nhiên, có những nghi vấn về nguồn gốc thực sự của giống gà này bởi giống gà sumatra ngày nay và những con gà chọi trong quá khứ không hề có quan hệ huyết thống (theo giáo sư G. Kooy 1995).


Hình vẽ vào năm 1895 của một họa sĩ vô danh.


Một con gà trống sumatra do đại úy E. Duckworth (Anh) lai tạo vào năm 1906.

Bản sao thu nhỏ/gà tre (bantam) của gà sumatra đen được lai tạo ở Hà Lan. Ở Anh, gà sumatra trắng được tạo ra bằng cách lai xa với yokohama trắng; tuy còn rất nhiều việc phải làm để cải thiện chất lượng những con gà trắng này.

Cá thể đầu tiên được nhập vào Mỹ từ năm 1847. Nhờ màu lông ánh kim và vẻ ngoài duyên dáng mà chúng trở nên rất phổ biến. Vào năm 1883, giống gà sumatra được ghi nhận trong tiêu chẩn gia cầm Mỹ (Standard of Perfection). Vào cùng thời điểm, chúng du nhập và Đức và năm 1900, du nhập vào Anh. Ở Sumatra, giống gà chọi này vẫn được duy trì dưới tên ayam sumatra. Ở các nước phương Tây, gà sumatra được lai tạo chủ yếu với mục đích làm cảnh. Qua nguồn thông tin trên mạng, tôi nghe nói giống gà này được tái lai tạo cho mục đích chọi gà ở Pháp.

Đặc điểm
Gà sumatra có kích thước trung bình với bề ngoài giống như chim trĩ. Lưng có chiều dài vừa phải, lông mã dày. Đuôi dài và rậm. Lông phụng cong tại hai phần ba chiều dài và cụp xuống. Lông phụng không lết trên mặt đất được chuộng hơn. Gà mái cũng có đuôi tương đối dài nhưng chỉ những lông phụng trên cùng mới cong.


Lông mã xanh bóng của gà sumatra trống.


Gà sumatra có bộ lông rậm nhưng bó chặt chứ không bù xù. Chân lông cứng chắc.


Gà mái cũng có đuôi tương đối dài, những lông phụng trên cùng hơi cong ở đầu cuối.

Đầu gà nhỏ (còn gọi là đầu rắn) với mồng trích ba khía. Màu của mồng biến thiên từ đỏ đến tím.

Màu mắt càng sẫm càng tốt. Nhưng con ngươi và tròng mắt phải rõ ràng.

Cẳng chân có màu đen và bàn chân màu vàng. Có cả loại bàn chân màu trắng nhưng ở Hà Lan, chúng bị coi là lỗi loại. Ở Mỹ, bàn chân trắng không bị coi là lỗi và được chấp nhận. Một số dòng có nhiều cựa nhưng cũng có một số dòng mà cựa chỉ nhú mầm.

Gà trống cân nặng từ 2 đến 2.5 kg. Gà mái từ 1.8 đến 2.3 kg. Kích thước của vòng đeo chân là 18 mm. Gà sumatra trưởng thành hoàn toàn ở 2 năm tuổi. Đây là một yếu tố quan trọng cần cân nhắc trước khi đem gà tham dự triển lãm.


Bàn chân màu vàng.


Cựa đôi.

Màu sắc
Ở Hà Lan, chỉ có màu đen ánh kim mới được coi là màu chuẩn, ánh đỏ hay tím cũng tồn tại nhưng bị coi là lỗi. Ngoài ra còn có những màu khác nữa. Ở bán đảo Scandinavia người ta duy trì cả sumatra xám tro (blue). Ở Hà Lan, chỉ một số ít người duy trì màu xám tro. Ở Đức có một số cá thể màu đen-đỏ hay nâu sậm. Ở Anh và Mỹ có một số gà sumatra xám trắng (splash stag) nhưng đến nay chúng vẫn chưa được đưa vào tiêu chuẩn. Ở Bỉ có một số gà sumatra bờm đỏ (màu điều) được triển lãm nhưng những màu này cũng chưa được cập nhật thành tiêu chuẩn.


Một con gà trống già thuộc dòng gà Đông Đức.

Hành vi
Hành vi ở gà sumatra cho thấy chúng vẫn duy trì những đặc điểm của tổ tiên. Chúng thực sự thích đi dạo loanh quanh và cũng rất cảnh giác. Nếu cảm thấy bị đe dọa thì ngay lập tức chúng có thể bay qua hàng rào cao một cách dễ dàng. Nếu được lựa chọn giữa chuồng gà với một cành cây thì hầu hết gà sumatra đều chọn cách thứ hai. Bởi hành vi như vậy mà gà sumatra cần chuồng nuôi rộng rãi và chạc cây cao. Chúng cũng cần chạc để giữ cho bộ lông sạch sẽ và cơ bắp mạnh khỏe. Gà sumatra không đòi hỏi loại thức ăn cầu kỳ nào khác. Đôi khi chỉ cần tăng cường thêm một lượng chất đạm để kích thích lông phát triển.

Gà sumatra là giống gà mạnh mẽ với khả năng kháng bệnh cao. Bạn chỉ cần theo dõi bệnh viêm đường hô hấp mãn tính hay CRD (Chronic Respiratory Disease), một loại bệnh di truyền ở gà. Để giúp gà mạnh khỏe, tốt nhất nên giữ môi trường khô ráo và che chắn vào ban đêm.


Gà sumatra xám trắng.

Mặc dù là gà chọi, gà sumatra vẫn chấp nhận nhau ở một mức độ nhất định. Gà trống tơ có thể lớn lên cùng nhau sau khi sự phân cấp trong nhóm đã rõ ràng. Nhưng chúng cần không gian để tránh xa khỏi vùng rắc rối. Gà nuôi trong chuồng có vẻ ít cá tính hơn những con được thả rông. Nhà lai tạo chăm sóc gà của mình hàng ngày và đặc biệt những con gà tơ thể hiện sự tin cậy và cả ảnh hưởng nữa. Gà tơ được cho ăn bằng tay sẽ theo chân nhà lai tạo khắp mọi nơi. Gà được nuôi cùng chó và mèo sẽ quen với chúng và cảnh báo khi những động vật khác thâm nhập vùng lãnh thổ của chúng.


Gà mẹ với bầy gà con.

Nhờ dáng vẻ bề ngoài giống như chim trĩ mà gà sumatra trở thành bảo bối của khu vườn hay bãi chăn thả. Gà mái đẻ khá nhiều trứng mỗi măn và trứng có màu trắng. Gà mái chăm con rất giỏi. Nếu chim ác là (magpie) hay những loài “săn mồi” khác đe dọa gà con thì gà mái sẽ thể hiện hành vi mạnh mẽ nhất để bảo vệ con mình. Tôi từng được chứng kiến điều này rất nhiều lần. Bạn sẽ thấy bầy gà rất hạnh phúc khi được thả rông sau một thời gian dài bị cách ly trong chuồng (vì dịch cúm gà). Chúng đập cánh và nhảy, thậm chí còn giả vờ “đá” nhau nữa.

Tiếng gáy của gà sumatra hơi lạ nếu bạn mới nghe lần đầu. Nhưng gà trống vẫn gáy như bất kỳ con gà trống nào khác. Gà sumatra cực kỳ duyên dáng và bí ẩn. Chúng thực sự là giống gà có giá trị!

Hiện trạng
Ở Hà Lan, gà sumatra tương đối hiếm, mặc dù trên thực tế có đầy đủ các dòng và gà giống để lai tạo. Nếu so sánh ở tầm mức toàn cầu, tình trạng của giống gà là “nhạy cảm”. Vì vậy, cần tiêm chủng gà sumatra để không bị loại bỏ bắt buộc vì những quy định y tế. Lý do là để bảo tồn giống gà này như là một di sản văn hóa.

Sưu tầm

 
 

Thẻ: , ,

Gà Nòi Việt Nam

Xuất Xứ

Không ai biết gà nòi Việt Nam có nguồn gốc từ đâu. Xuất xứ khởi thủy của nó không thể truy cứu được vì thiếu tài liệu. Hơn nữa, nước Việt phải trải qua một cuộc nội chiến kéo dài 30 năm khiến hàng triệu người phải bỏ mình, nhà cửa tan nát lại càng khiến cho các tài liệu gà nòi khác đều khan hiếm.

Định Nghĩa

Theo pho tự điển “Đại Nam Quốc Âm Tự Vị” của tác giả Hùynh Tịnh Của (Quyển II, bản in năm 1896 – trang 155) thì chữ “Nòi” có những nghĩa sau:

Nòi = dòng, giống.
Gà Nòi = Gà người ta nuôi cá độ, chính là giống gà tốt.
Rặt Nòi = thật giống, thật nòi, không lộn lạo, chính là một máu một thịt, không phải chạ.

Danh từ gà nòi được dùng để gọi chung cho cả gà nòi đòn lẫn gà nòi cựa. (thường đựơc gọi tắt là gà đòn và gà cựa)


Gà Đòn

 

 

Gà đòn

Gà đòn là loại gà cổ trụi, chân cao, cốt lớn dùng để đá chân trơn hoặc bịt cựa. Gà đòn được chia ra hai loại rõ rệt. Đó là loại gà mã lại (còn gọi mã mái) và gà mã chỉ.


 Cựa của một con gà đòn 9 tháng tuổi. 

Đặc Điểm Chung

Gà không cựa
Gà đòn thường được sách vở mô tả là loại gà chân trơn, không cựa, hoặc cựa mọc không dài, cựa vừa lú như hạt bắp. Gà này lớn con được dùng theo thuật đá đòn bịt cựa. Danh từ “gà đòn” phát xuất từ miền Trung đựơc dùng để gọi riêng loại gà đá đòn bằng quản và bàn chân. Ngày nay danh từ gà đòn đã được công chúng dùng một cách rộng rãi để gọi chung các loại gà nòi đấu ở trường gà đòn trong đó có những loại gà miền nam có cựa dài và biết xử dụng cựa.

Ở miền Trung, đá gà là thú tiêu khiển của người lam lũ, khi hết mùa đồng áng mới bắt tay vào việc chơi gà. Bởi lẽ tiền bạc khó kiếm nên dân miền trung thích chơi gà đòn, – một độ dầu ăn hay thua cũng kéo dài suốt mấy giờ đồng hồ, có khi suốt ngày. Vì chuyên về gà đòn nên dân miền Trung tuyển chọn cảng gà khiến gà bị nín cựa, mọc chậm và ngắn. Nếu con nào có cựa mọc dài cũng sẽ bị cưa hoặc mài ngắn. Khi cựa mới lú cũng bị chủ gà bấm cựa khiến cựa bị tầy đầu, không lú ra đựơc.

lối đá của gà đòn khác hẳn gà cựa. Gà đòn dùng quản và bàn chân để quất. Gà cựa thì dùng cựa để đâm. Cựa của gà đòn có gốc to và mọc rất chậm so với gà cựa. Gà đòn chín tháng tuổi thì cựa cũng chỉ bằng hạt bắp.


 Gương mặt bặm trợn 

Đầu và diện mạo
Xương sọ gà nòi lớn hơn gà thường, đỉnh đầu của xuơng thường lớn bản và bằng. Mặt gà rộng bản với xuơng gò má nhô cao. Vì được gần gũi và chăm sóc bởi chủ kê nên gà nòi có những đặc tính tâm lý rất khác biệt với các lọai gà khác, chẳng hạn khi được chủ kê cho ăn hay tắm rửa, khuôn mặt gà nòi biểu lộ nét thỏai mái và tự tin, khi có người lạ đến gần gà nòi sẽ ngóng cao đầu và nghiêng mặt, trố mắt tò mò theo dõi nhìn, khi đối diện một con gà khác đôi mắt sẽ gườm lên thách thức so tài. Khi lâm trận thì mắt gà nòi lộ sát khí.


 Da cổ nhăn dày và xếp lớp 

Cổ lớn, da dày và nhăn
Cổ gà nòi lớn và trông rất mạnh bạo với một chiều dài vừa phải, xương cổ rất cứng cáp và các khớp xương gắn bó đều đặn và rắn chắc. Lớp da ở cổ gà nòi được xếp lớp theo hình sóng dợn. Những người xa lạ với gà nòi thường thắc mắc đặt câu hỏi: “gà nòi trụi lông cách tự nhiên hay bị hớt ?” Câu trả lời không đơn giản vì còn tùy thuộc vào loại gà. Có những lọai gà nòi trụi lông cổ tự nhiên hoặc có rất ít lông nhưng cũng có những lọai có lông phủ đầy mình. Thông thường thì gà nòi trơ trụi cho đến khi được 1 tuổi nếu được nuôi ở những nơi có thời tiết và khí hậu nóng ấm như Việt Nam. Lông ở cổ và đùi có thể sẽ không mọc lại được trong lần thay lông của mùa sau. Các tay chơi gà thường om và vào thuốc tẩm làm cho lớp sừng (da trên mặt) và lớp biểu bì săn chắc lại khiến cho các chân lông bị khô khiến lông khó mọc lại. Gà nòi đã được mang qua Hoa Kỳ nuôi và chúng đã dần dà phát triển bộ lông đầy đủ để thích nghi với khí hậu lạnh. Gà nòi nơi đây thường có bộ lông đầy đủ hoặc chỉ trụi chút đỉnh ở phần cổ khi được 9 tháng tuổi.


 Gà 10 tháng tuổi trụi lông tự nhiên. 

Hình bên cạnh là một con gà xám tơ 10 tháng tuổi. Đầu, cổ, và đùi còn trụi lông tự nhiên vì gà còn tơ.

Chân và vảy
Chân gà nòi thường có hai hàng vảy với đường đất chạy hình chữ chi ở giữa hai hàng vảy.
Gà nòi với ba hay bốn hàng vảy thường rất hiếm. Có sách ghi rằng gà ba hàng vảy tuy đá nhanh đòn nhưng đòn không mạnh.

Trong khoảng hơn ba thập niên qua, các tay chơi gà ở miền Nam thường không thích gà nòi có chân màu vàng, lý do là màu chân vàng là màu của gà thịt, một lọai gà Tàu hay gà Bắc Thảo nuôi để lấy thịt. Ngày nay lọai gà chân vàng tuy chưa được ưa chuộng một cách rộng rãi nhưng cũng đã được dần dà chấp nhận trong giới mộ điệu chơi gà.


 Mắt ếch. 

Mắt ếch
nếu gà nòi có mắt lớn thì không thích hợp cho các trận đá nhưng gà có mắt lồi như mắt ếch thì lại khác. Gà mắt ếch có đặc điểm lanh lợi và linh động khi ra trận. Nếu gà nòi mắt ếch mà có màu chân xanh thì được xem là hợp cách rất qúy. Các tay chơi gà thường truyền tụng câu ca dao:

“Chân xanh mắt ếch đánh chết không chạy”

Những Đặc Tính Khác

  • Đùi: Nở nang và thường dài hơn phần quản
  • Chân: Tương đối cao. Loại chân vuông hoặc tam giác thường đựơc các sư kê ưa chuộng.
  • Mình: Rắn chắc và dài đòn. Phần bụng nhỏ và không phát triển.
  • Da: Dày và đỏ.
  • Thịt: thịt gà nòi là lọai có cơ bắp lớn nở nang do năng vận động và tập luyện. Chính vì thế mà thịt gà nòi trở nên dai, phải “hầm” lâu hơn gà thường mới ăn được !
  • Xương: gà nòi có bộ xương rất lớn và nặng ký do đó cần có thời gian lâu cho gà phát triển. Trung bình hơn 1 năm gà nòi mới đủ thể lực và cứng cáp để có thể ra trường.
  • Đuôi: đuôi gà nòi ngắn, lông ống cứng có hình cánh quạt để chống đỡ khi nhảy, té. Gà có lông “Mã chỉ” thường có thêm lớp lông vũ phủ thêm bên ngòai lớp lông ống.
  • Cựa: Loại cựa đơn là thông thường nhất. Tuy nhiên có lọai gà nòi có từ 2 đến 6 cựa chột như đầu đinh nơi chân được gọi là gà “Nhị Đinh”, “Tam Đinh”,… “Lục Đinh”. Đây là những lọai gà nòi giòng khác biệt. .
  • Bộ Lông: Lông rất thưa thớt ở phần đầu, cổ và đùi. Lông cứng, dòn và dễ gãy. Gà nòi có nhiều sắc lông chính như xám, ô, nhạn, điều và vàng. Các con gà có sắc lông pha trông rất rực rỡ và đẹp mắt như xám son, ô điều (tía), chuối và ó.
  • Trọng lượng: gà nòi có trọng lượng từ 6 tới 11 pounds (khoảng 2.8 kg tới 5 kg)
  • Tiếng gáy: Gà nòi không gáy nhiều như các lọai gà tre, gà Thái hay gà Tàu. Tiếng gáy của gà nòi trầm hùng.
  • Tánh nết: Đặc tính của gà nòi là can đảm, lì lợm và bất khuất. .
  • Địa điểm: Gà nòi đòn nổi tiếng hiện nay được nuôi nhiều ở các tỉnh miền Trung như : Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Đà Nẵng và nhiều vùng cao nguyên. Gà nòi cũng được phát triển rộng rãi các tỉnh, vùng ngòai Bắc như : Lạng Sơn, Bắc Giang (tỉnh Hà Bắc cũ), Hà Nội, Nam Định,vv… Trong miền Nam gà nòi được biết nhiều qua các địa danh như : Bà Rịa, Đồng Nai (Biên Hòa), Sàigòn, Bà Điểm, Long An, Cao Lãnh,v.v,…

(  trích nguồn : http://www.ganoi.com )

 
 

Thẻ: , , ,

Chabo – giống gà tre của Nhật

Nguồn gốc và đặc điểm

Gà tre nhật hay chabo 矮鶏 (ải kê) là giống gà có xuất xứ từ Nhật Bản. Nhiều tài liệu cho rằng nguồn gốc xa xưa của gà tre nhật là ở vùng Đông Nam Á, nơi mà người ta vẫn nuôi gà từ bao đời nay. Gà tre xuất hiện trong hội họa Nhật Bản ngay sau thời kỳ đóng cửa với thế giới bên ngoài, khoảng những năm 1635, và nó cũng xuất hiện trong hội họa Hà Lan vào cùng thời điểm. Có lẽ các nhà buôn gia vị người Hà Lan đã mang gà tre vào Nhật từ những cảng biển ở vùng Đông Nam Á như Hội An (Việt Nam) hay Java (Indonesia) vốn cũng là thuộc địa của Hàn Lan vào thời đó. Từ “chabo” bắt nguồn từ ngôn ngữ Java “chabol” (hay “cebol”), có nghĩa là “lùn”, áp dụng cho cả người lẫn giống gà chân ngắn này.

Gà chabo xuất hiện ở Đức vào đầu thế kỷ 19, sau đó xuất hiện tại Anh vào năm 1860 và được triển lãm rộng rãi từ năm 1910. Câu lại bộ lai tạo đầu tiên hình thành ở Anh vào năm 1921 và bị gián đoạn một thời gian trong khi Thế Chiến II diễn ra. Nó tái hoạt động vào năm 1961 và phát triển cho đến tận ngày nay.

Tiêu chuẩn gà tre nhật với chân ngắn và thân tròn chỉ xuất hiện trong bản Tiêu Chuẩn Gia Cầm Nhật Bản (Poultry Standard of Japan) vào năm 1941 mặc dù giống gà đã xuất hiện từ thế kỷ thứ 16.

Các đặc điểm chính của gà tre nhật

1. Đuôi hướng thẳng lên trên một cách duyên dáng phía sau đầu. Đuôi không được cong như những loài gà thông thường khác mà phải thẳng đứng như lá của cây hoa diên vĩ (iris).
2. Chân phải ngắn và không dính lông, vì vậy, khi đứng, chỉ có phần ngón chân đưa ra ngoài, tuy nhiên chân vẫn phải thẳng và cực ngắn. Chân xoãi về phía trước được coi là lỗi bởi vì nó khiến bụng gần chạm đất.
3. Cánh lớn với chóp gần chạm đất tạo ra dáng vẻ oai vệ mỗi khi bước đi.
4. Thân phải tròn và rộng với phần lưng (giữa cổ và lông mã) cực ngắn.

Tiêu chuẩn
Gà tre nhật thực sự có nguồn gốc lâu đời, không tồn tại dòng gà tương tự với kích thước lớn hơn. Tất cả các biến thể đều có chân ngắn. Ngoài dạng lông bình thường còn có dạng lông xù/mịn (frizzle/silkie).

Gà trống
Hình dáng và tính cách: rất nhỏ, thấp, rộng và mập với ngực nở và đuôi dựng thẳng. Hình dáng phù hợp với mồng rất to, tính cách lanh lợi và dáng đi lệt bệt. Lông rất nhiều và dày.

Kiểu: lưng rất ngắn, rộng và nếu nhìn ngang thì nó có hình chữ U hẹp với hai vách được tạo ra bởi cổ và đuôi. Tuy nhiên, hình dạng này hầu như không thể duy trì một khi gà hoàn toàn trưởng thành. Lông mã dày và dài. Thân ngắn, thấp và rộng. Ngực rất đầy đặn, tròn và nhô hẳn ra phía trước. Cánh dài với chóp chấm đất ở ngay điểm cuối của thân. Hông rất ngắn và không lộ rõ. Đuôi rất rộng và hướng thẳng lên trên. Lông đuôi phải cao hơn đầu, khoảng 1/3 tổng chiều dài, xòe đều với các lông phụng chủ thẳng như lưỡi kiếm và kèm theo bởi một số lông tá. Đuôi có thể chạm vào mồng nhưng không được ngả về trước quá nhiều.

Đầu: to và rộng, cử động mạnh mẽ và cong đều, mắt to. Mồng lá, to (càng to càng tốt), dựng thẳng và chia đều với từ 4 đến 5 gai. Viền mồng phải đi đôi với gáy. Mặt nhẵn nhụi, tai cỡ trung bình, đỏ và không lem trắng. Tích thụng và lớn.

Cổ: tương đối ngắn, cong về phía sau và có nhiều lông bờm phủ lên vai.

Chân và móng: cẳng chân cực ngắn, nhẵn nhụi (không lông), mạnh mẽ và khủy chân sắc góc. Cẳng phải ngắn đến mức hầu như không thể nhìn thấy. Bốn ngón phải thẳng và xòe đều.

Gà mái
Các đặc điểm của gà mái phải theo sát với mô tả ở phần Kiểu của gà trống. Ngực phải tương tự như mô tả ở gà trống. Đuôi xòe đều và vươn quá đầu. Lông đuôi phải rộng, cặp lông phụng chủ phải hơi cong như lưỡi kiếm. Mồng lớn, gai mồng phân đều, dựng thẳng mặc dù mồng đổ về một bên không phải là tật.

Di truyền
Gà tre nhật mang 1 alen chân thấp và 1 alen chân cao. Khi lai tạo, trứng sẽ nhận được mỗi alen từ gà cha lẫn gà mẹ. Nếu trứng nhận được cả hai alen chân thấp từ gà cha mẹ thì không sẽ không nở vì bào thai chết yểu. Alen chân thấp tiềm tàng yếu tố “độc hại” mà khi kết hợp với nhau thì nó sẽ bộc phát.

Kết quả lai tạo như sau:

* 25% số trứng sẽ nhận được cả hai alen chân thấp. Trứng sẽ hư, không nở.
* 50% số trứng sẽ nhận được một alen chân thấp và một alen chân cao. Vì đặc điểm chân thấp là gien trội nên toàn bộ số gà này sẽ có kiểu hình chân thấp.
* 25% số trứng sẽ nhận được hai alen chân cao và có kiểu hình chân cao mà các nhà lai tạo không mong muốn. Nếu lai tạo những con gà này với nhau thì sẽ không bao giờ thu được gà tre nhật chân thấp chính hiệu.

—————————————-
Ghi chú: thay vì lai gà chân thấp với nhau, một số người lai gà trống chân cao với gà mái chân thấp. Cách này cũng thu được 50% gà chabo chân thấp nhưng có hai ưu điểm a) gà trống chân cao đạp mái tốt hơn và b) bạn sẽ thu được 50% gà chân cao (thay vì 25%) nhờ vậy số cá thể trống chân cao nhiều hơn và dễ lựa gà giống để lai tiếp. 
—————————————-

Triển lãm
Chuẩn bị gà đi thi
Bước 1: gà chuẩn bị tham dự triển lãm phải được nuôi trong điều kiện vệ sinh, tỉa tót một chút càng tốt. Một khi lông gà bị gãy hay tổn thương thì có tắm bao nhiêu cũng không làm nó lành được. Ở đây, cần đảm bảo gà của bạn tham dự đúng thể loại và màu sắc.

Bước 2: để tắm gà, bạn cần hai chậu nước ấm. Nếu gà quá bẩn, hãy thêm một ít xà bông tắm vào chậu. Cần tắm gà trong khoảng 10 phút để loại hết chất bẩn, cẩn thận không làm hư lông vì nhúng nước sai cách. Chậu thứ hai dùng để xả sạch xà bông dính trên lông gà. Lúc này, rửa mặt cho gà và bọc nó trong khăn khô. Tỉa mỏ trong khi bọc gà. Nếu mỏ quá dài thì tỉa bằng kéo rồi giũa lại cho nhẵn; dùng giũa cắt móng tay cũng được. Sau đó tỉa móng và giũa, kiểm tra và đảm bảo cẳng gà thật sạch.

Bước 3: sau khi tắm cần giữ ấm và làm khô lông gà ngay lập tức. Có hai cách để làm khô gà. Nếu bạn tắm cho một hay hai con thì cây sấy tóc là thích hợp. Giữ gà bằng tay trái khi gà đứng trên bàn, giữ cây sấy tóc bên tay phải để thổi khô lông. Cẩn thận không thổi ngược chiều khiến lông gà xù lên. Còn cách nữa, và có lẽ cách tốt nhất, là đặt gà dưới đèn sưởi. Cách này làm khô gà tự nhiên hơn và gà không rỉa lông trong khi khô.


Lau gà trước khi làm khô lông.

Yêu cầu về trọng lượng
Gà trống: 510 – 620 g
Gà mái: 400 – 510 g

Thang điểm
Kiểu: 55
Kích thước: 15
Điều kiện: 15
Màu lông: 10
Màu chân: 5
Tổng cộng –> 100

Lỗi nghiêm trọng
Dáng hẹp. Chân dài . Lưng dài. Đuôi túm. Đuôi thấp. Mồng dị tật hay đổ ở gà trống. Cánh cao. Lỗ tai dính màu trắng. Bất kỳ dị tật nào.

Các lỗi phổ biến ở đuôi

Đuôi không xòe ——————– Đuôi không đủ cao


Đuôi ngả về trước quá nhiều ———— Đuôi quá thấp


Lý tưởng


Đuôi lệch ————————- Đuôi sóc


Đuôi cong (lông phụng mềm) ——— Đuôi ngả


Lý tưởng

Biến thể

1) Nhạn (white): màu lông phải trắng tinh, lông hơi vàng một chút được chấp nhận nhưng nếu vàng quá cũng bị coi là lỗi. Lông hơi trong hay dính màu lạ là lỗi.

2) Nhạn đuôi đen (white black tail): đuôi ít đen hay cổ dính đen là lỗi nghiêm trọng.

3) Ô (black): lông đen tuyền và hơi dính màu ánh kim được chấp nhận. Màu ánh kim chuyển sang tông tím bị coi là lỗi nghiêm trọng. Ở một số cá thể, hắc sắc tố phát triển mạnh khiến vùng mặt (bao gồm mồng, tích, tai và mắt) nhiễm đen. Đặc điểm này không bị coi là lỗi. Mắt cam ở ô mặt đen là lỗi nghiêm trọng.

4) Xám tro (blue)

5) Bông (mottled) – biến thể bông rất đa dạng; bông càng gần đốm tròn càng tốt, bông biến thành viền hay vạch là lỗi nghiêm trọng.

Bông tam sắc (tricolor mottled): bông trắng và đen trên nền điều

Ô bông (mottled black)

Tro bông (mottled blue)

Khét bông (mottled buff) và nhạn bông (mottled white)

6) Ó (cuckoo)

Một biến thể của màu ó nữa là ó khét với hoa văn trên nền khét nhạt ở lông cổ và lông mã:

7) Điều (black breasted red). 8) Mái vàng (wheaten)

9) Khét (brown red): tương tự như màu điều nhưng lông ngực màu nâu (thay vì đen).

10) Khét sữa (buff): tông màu nâu nhạt như da bò (buff), có nơi còn phân thành đuôi thường và đuôi đen (black tail).

11) Chuối (silver duckwing)

12) Chuối xám (birchen/gray)

13) Okina: râu

14) Higo: mồng, tích cực to

15) Xù (frizzle)/Mịn (silkie, gà ác)

Chuồng trại

Ngoài trời

* Gà tre nhật chỉ có thể nuôi ngoài trời vào mùa khô ráo. Vì nhỏ con và nhẹ cân nên chúng không thích hợp để nuôi ngoài trời khi thời tiết trở lạnh và ẩm ướt.

* Khuôn viên nuôi gà ngoài trời có thể biến thiên về kích thước và hình dạng. Nhưng một khuôn viên tiêu chuẩn phải bao gồm một chuồng gà nhỏ diện tích khoảng 1 mét vuông và sân có cùng bề rộng nhưng dài khoảng 1,5 mét.

* Chuồng phải đủ cao để không làm hư mồng hay đuôi gà. Để ngăn địch hại (chẳng hạn chuột và chim sẻ), sân nên được rào kín bằng lưới với kích thước mắt lưới 1,2 cm. Nền sân cũng có thể trải lưới nếu bị động vật cỡ lớn phá phách (chẳng hạn chuột cống và cáo).

* Có thể lợp mái tôn nhựa ngoài sân để che mưa và gió, nhưng điều này có thể khiến cho việc quan sát gà khó khăn hơn.

* Sơn bảo vệ gỗ hàng năm sẽ làm tăng tuổi thọ của chuồng. Vì sơn dẫu sao cũng độc nên tốt nhất nên thực hiện vào mùa lạnh, khi chuồng để trống.

* Khuôn viên thường được thiết kế sao cho có thể di chuyển trên nền đất. Điều này giúp diện tích nuôi không bị ngập đầy chất thải.

* Chuồng nuôi lớn và nặng nên được thiết kế để dễ làm vệ sinh. Điều này đồng nghĩa với việc thường xuyên thay vật liệu lót nền (tốt nhất bằng dăm bào hay mùn cưa).

* Xịt chất kháng khuẩn không độc để ngăn ngừa vi khuẩn và virus có hại. Khống chế rận và ve trong chuồng và ổ gà bằng cách thường xuyên rắc bột sát trùng.

* Nuôi gà ngoài trời cũng có một số lợi ích. Cỏ tươi luôn có sẵn và, với việc thường xuyên di chuyển khuôn viên, phân không bị tích tụ quá nhiều khiến ký sinh và bệnh tật phát sinh. Sân còn cung cấp không gian để gà đào bới và tắm cát.

* Gà nuôi trên nền đất thường có màu chân và mỏ đẹp nhưng nên nhớ rằng ánh sáng mặt trời có thể làm lông gà phai màu, vì vậy những cá thể có tiềm năng tham dự triển lãm cần được nuôi trong bóng râm hay nhà trại.


Ví dụ về một khuôn viên.

Trong nhà
Gà tre nhật có thể được nuôi quanh năm trong nhà trại. Kiểu nuôi này có thể tránh được tác động của thời tiết mà vẫn sạch sẽ và khô ráo. Nhờ được chiếu sáng bằng đèn, bạn có thể kéo dài thời lượng ban ngày vào mùa đông để cho gà ăn cũng như có thêm thời gian để chăm sóc và quan sát gà.


Ví dụ về chuồng nuôi trong nhà trại.

* Nhà trại thường bao gồm những ngăn lai tạo thông thoáng. Chúng phải có kích thước và cấu trúc sao cho dễ thâm nhập để làm vệ sinh.

* Một cặp gà tre nhật sẽ sống và sinh sản hoàn toàn thoải mái trong ngăn có kích thước 0,75 x 1 m, nhưng ngăn lớn hơn có thể được sử dụng để nuôi ba con (một trống hai mái) hoặc một nhóm gà tơ.

* Một nguyên tắc thiết kế linh hoạt là gỡ bỏ các tấm ngăn để vài ba ngăn có thể thông với nhau thành một ngăn lớn hơn.

* Có thể gác chạc nếu kích thước phù hợp. Tốt nhất, tiết diện chạc khoảng 5 cm vuông, hơi tròn và có thể dỡ đi để ngăn gà ngủ quá sớm khiến xương ức bị gập.

* Chạc phải được đặt ở độ cao vừa phải để gà có thể nhảy lên dễ dàng, nhưng đủ cao để ngăn gà ngủ trong ổ.

* Một tấm lót được đặt bên dưới chạc để giữ vệ sinh cho đáy ngăn.

* Vật liệu lót lý tưởng là dăm bào hay mùn cưa vì chúng hút ẩm, không làm hư lông và cung cấp chất liệu để gà đào bới.

* Dăm bào/mùn cưa phải được thay một lần mỗi tuần hay khi cần để ngăn cản dịch bệnh phát sinh. Vấn đề vệ sinh cần được quan tâm hơn khi nuôi trong nhà trại.

* Nền dơ hay lầy lội chứa nhiều vi khuẩn có hại có thể gây ra bệnh ở đường hô hấp, mà nếu nhà trại không thông thoáng, thì dịch bệnh có thể lan ra toàn trại gà.

* Khi làm vệ sinh xong, tốt nhất nên xịt sàn chuồng nuôi bằng chất sát khuẩn không độc hại trước khi rắc dăm bào/mùn cưa mới.

* Khống chế rận và ve theo cách thức như khi nuôi ngoài trời.

* Một vấn đề nữa đối với các nhà trại là ve đỏ (red mite), chúng núp trong các kẽ hở và tấn công chủ yếu vào ban đêm khi gà đang ngủ.

* Cách tốt nhất để điều trị dứt điểm là dọn sạch toàn bộ nhà trại, chuồng nuôi và ổ gà, xịt thuốc tẩy trùng mọi nơi, thậm chí ở từng ngóc ngách nhỏ. Chờ thuốc khô hẳn trước khi thả gà lại. Quy trình này được thực hiện định kỳ vào những tháng mùa hè khi vòng đời của ve đỏ là 10 ngày.

Thức ăn
Mặc dù gà tre nhật có bề ngoài khác biệt với hầu hết các gống gà khác, đặc biệt là loài gà rừng tổ tiên, nhưng chúng có thể được cho ăn theo cách tương tự.

Cám hay viên tổng hợp 
Ngày nay, các loại thức ăn tổng hợp dưới dạng cám hay viên luôn sẵn có và rất tiện lợi để nuôi gà. Thức ăn viên dưới dạng khô được hầu hết người chơi gà sử dụng; cám có hai loại khô và ướt. Cám ướt có điểm thuận lợi là ít bị vãi ra khỏi máng ăn khi gà mổ, nhưng bạn cần tính toán để gà ăn hết trong ngày bằng không, cám sẽ bị chua và phải bỏ đi. Máng thức ăn cũng cần được rửa thường xuyên để loại bỏ cám dính. Cám khô không gặp phải vấn đề này nhưng bạn sẽ thấy rằng trừ phi gà của bạn có lưỡi, bằng không thì chúng sẽ làm vãi nhiều hơn là lượng cám chúng thực sự ăn vào. Có vô số loại cám và viên khô của các nhà sản xuất khác nhau và luôn có sẵn trong các tiệm bán thức ăn gia súc. Đa số các tiệm thú cảnh cũng bán cám nhưng trong một số trường hợp bạn phải đặt hàng trước. Cám hay viên tổng hợp thường được bán dưới dạng bao 20/25 kg; nếu bạn có ít gà thì hãy mua bịch nhỏ hơn.

Ngũ cốc
Cũng có thể cho gà ăn ngũ cốc xen kẽ với thức ăn viên, hoặc trộn cả hai. Nên nhớ rằng nếu bạn cho gà ăn một lượng lớn thức ăn khác bên cạnh một thực đơn cân bằng thì bạn có thể phá vỡ nó! Bột mì có thể kết hợp với thức ăn viên, trộn theo tỷ lệ 5-5 hoặc ăn dặm trước khi gà ngủ. Giá bột mì rất rẻ, đặc biệt nếu bạn tìm ra nhà cung cấp trung thực! Bột bắp khiến gà bị mập nếu cho ăn quá nhiều; điều này không tốt vì gà sẽ yếu và khó sinh sản, nhưng nếu cho ăn ít hoặc thỉnh thoảng, nó sẽ giúp chân và mỏ gà có màu vàng tươi – thích hợp để tham dự triển lãm. Yến mạch xay là nguồn thức ăn chất lượng khác nhưng không cân bằng như bột mì. Có lẽ bạn thử tìm xem chỗ tiệm thức ăn gia súc, mà mình hay mua, có bán bắp trộn hay không.

Sạn
Gà sử dụng sạn vào hai mục đích chính. Sạn được dùng để nghiền các thức ăn cứng, chẳng hạn như bắp. Gà phải được cung cấp sạn nếu thức ăn có bắp, bằng không thì chúng không thể tiêu hóa một cách thích hợp. Sạn được trữ trong một bộ phận đặc biệt gọi là mề, và đấy là nơi “xay nhỏ” bắp. Gà phải phát triển bộ phận đặc biệt này để bù đắp cho việc chúng nuốt toàn bộ thức ăn mà không nhai. Công dụng khác của sạn là tiết ra can-xi để gà phát triển và duy trì sức khỏe, nhưng đặc biệt là để tạo vỏ trứng. Không phải loại sạn nào cũng tiết ra can-xi, nhưng sạn làm từ vỏ sò ốc giã nhỏ có thể đáp ứng được nhu cầu này. Bạn cũng có thể mua loại sạn trộn với cả hai công dụng. Gà được cho ăn cám/viên tổng hợp thuần túy không cần sạn, bởi vì can-xi đã có sẵn trong thức ăn và chúng có thể tiêu hóa thức ăn mà chẳng cần nghiền nát; nhưng bạn vẫn có thể cho gà ăn sạn nếu thích. Gà thả rông có thể tự kiếm sạn từ đất. Sạn có thể được bỏ sẵn vào chén hay phễu để gà ăn, hay thỉnh thoảng bỏ một nắm.

Nước
Phải luôn cung cấp sẵn nước sạch. Khi gà đẻ trứng, chúng sẽ tiêu thụ một lượng lớn nước. Chén nước đặt dưới sàn rất dễ bị dơ, nhưng còn có rất nhiều kiểu vòi (fountain) và khay chụp (drinker) khác. Loại dùng cho chim có lẽ thích hợp với chuồng nhỏ hơn là khay chụp lớn cho gia cầm; khay chụp cho gà có lẽ là tốt nhất. Khay chụp phải sạch sẽ và đủ nước cho gà uống cho đến lần châm nước kế tiếp (thường là hàng ngày, một số khay chụp dùng được vài ngày; điều này cũng tốt chừng nào mà nước không bị ô nhiễm bởi đất, bụi và thức ăn).

Nuôi dưỡng và ấp trứng
Có một số cách ấp và nuôi dưỡng gà tre nhật. Một số người sử dụng phương pháp ấp tự nhiên, một số ấp bán nhân tạo còn một số phụ thuộc hoàn toàn vào lồng ấp. Bởi vì mỗi con nở mỗi kiểu nên bạn phải bỏ thời gian để tìm hiểu đâu là phương pháp thích hợp với mình nhất.

Phương pháp 1 – Tự nhiên
Đây có lẽ là phương pháp ít rắc rối nhất; gà mẹ làm hết mọi thứ. Một khi gà bắt cặp, tổ sẽ được đưa vào. Thông thường mỗi ngăn một tổ. Hầu hết gà tre nhật mái đẻ từ 7 đến 9 trứng rồi mới ấp. Khi gà mái bắt đầu nằm ổ, dời gà và trứng khỏi tổ và xịt hay rắc thuốc sát trùng (gà mái nằm ổ dễ bị rệp và ve tấn công). Đặt lại trứng vào tổ và gà mái vào ngăn. Đừng ép gà mái nằm lên trứng; sau khoảng 10-15 phút gà mái sẽ tự vào ấp trứng. Ghi chú ngày gà bắt đầu nằm ổ, 20-21 ngày sau trứng sẽ nở. Đa phần gà mái sẽ tự rời tổ để ăn uống và vệ sinh, nhờ vậy tổ sẽ luôn sạch sẽ.

Ưu điểm:

* Không lo cúp điện.

* Dễ phân biệt lứa gà.

* Không cần ấp nhân tạo.

* Một số người cho rằng gà con mạnh khỏe hơn khi được ấp tự nhiên.

Nhược điểm:

* Năng suất thấp.

* Gà mái có thể bỏ ấp.

* Khi gà con ra đời chúng có thể bị gà mái tấn công hay không được ủ ấm.

* Gà mái đè quá mạnh lên trứng khiến chúng bị hư (soiled).

Nếu gà mái đáng tin cậy và thực hiện tốt vai trò làm mẹ (thường là vậy), kết quả thu được sẽ tốt và những con gà như vậy được tuyển làm gà giống để duy trì đặc điểm này cho những thế hệ về sau. Người chơi gà sử dụng phương pháp này sẽ tự hào rằng không chỉ lai tạo được gà đẹp mà còn chọn được dòng gà ấp và chăm sóc con tốt.

Phương pháp 2 – Bán nhân tạo
Phương pháp này ấp trứng theo cách tự nhiên và nuôi gà con bằng cách nhân tạo. Một mẹo nhỏ là bồi dưỡng cho gà trước khi chúng bắt đầu đẻ trứng – vì vậy, có lẽ nguồn dinh dưỡng tốt và chiếu đèn (kéo dài thời lượng ban ngày) là cần thiết. Nên nhớ rằng gà phải đẻ trứng trước khi nằm ổ.

Tổ gà được đặt vào mỗi ngăn và để tự nhiên giống như phương pháp đầu. Khi trứng nở, ngay lúc gà con vừa khô lông, chúng được tách khỏi gà mẹ và đặt vào lồng ấp/sưởi nhân tạo. Hãy đảm bảo rằng gà thoải mái khi được đặt vào lồng sưởi. Nếu gà con tụm vào nhau thì lồng sưởi vẫn chưa đủ ấm, nếu chúng nép vào các góc và thở gấp thì có nghĩa lồng quá nóng. Những con chân dài sẽ bị loại, những con còn lại sẽ được đeo vòng chân. Nên trữ sẵn một số vòng màu, mỗi lứa sẽ được đeo vòng màu khác nhau.

Quan sát kỹ lưỡng những con đã được đeo vòng. Gà lớn rất mau vì vậy cần thay vòng khi chúng gần chật. Nếu dùng loại vòng chân dành cho chim thì phải hết sức lưu ý – chúng rất khó gỡ. Có thể đánh dấu bằng cách viết lên lông gà nhưng những dấu này mau biến mất.

Ưu điểm:

* Nhiệt độ ổn định.

* Kiểm soát được lượng thức ăn

* Có thể đồng thời chăm sóc một bầy lớn

Nhược điểm:

* Virus có thể phát sinh – nguy cơ tử vong cao

* Nguy cơ cúp điện hay hư đèn sưởi

* Cần để ý hơn so với cách ấp tự nhiên

* Phải chuẩn bị sẵn lồng ấp/sưởi.

* Phải có kinh nghiệm vận hành lồng ấp/sưởi.

Phương pháp 3 – Ấp nhân tạo
Đây là phương pháp được nhiều người chơi gà tre nhật áp dụng. Có nhiều loại lồng ấp trên thị trường, vì vậy người chơi gà nên tìm kiếm lời khuyên từ những người có kinh nghiệm ấp nhận tạo. Nếu mua phải lồng ấp không thích hợp thì sẽ tốn tiền.

Cần đọc kỹ hướng dẫn sử dụng. Bước kế tiếp là tìm chỗ đặt lồng. Có thể đặt trong nhà, ga-ra hay ngoài trời nhưng nhiệt độ phải ổn định như trong nhà. Nhiệt độ quá thấp vào ban đêm hay quá cao vào ban ngày là không thích hợp.

Ưu điểm:
Nếu sử dụng kiểu lồng tự đảo trứng (nên dùng loại này), thay vì phải kiểm tra trứng sau mỗi 6 ngày, thì không phải làm gì cả cho đến trước khi trứng nở một ngày, tốt nhất nên tắt cơ chế đảo trứng. Đây là lúc sắp trứng theo từng lứa – có một cách là đặt vào khay hay túi lưới nhỏ – để khi trứng nở, những lứa khác nhau được tách bạch.

Nhược điểm:

* Nguy cơ cúp điện.

* Cần điều chỉnh độ ẩm.

* Cần điều chỉnh nhiệt độ

Nếu sử dụng lồng ấp không tự đảo, thì phải đảo trứng bằng tay tối thiểu hai lần mỗi ngày. Việc này tuy mất thời gian nhưng là điều kiện bắt buộc để trứng nở – trên thực tế, tuần đầu nên đảo ba lần mỗi ngày. Để đơn giản hóa quy trình, trứng sẽ được đánh dấu. Khi đảo, trứng sẽ được lật sang mặt này, lần đảo sau, chúng sẽ được lật ngược lại. Nếu sử dụng một loại lồng ấp mới thì bạn cần phải thật kiên nhẫn trước khi thành công.

Kết luận
Gà tre nhật bản mỗi con nở một kiểu. Chúng thực sự là thách thức đối với người chơi gà. Kiên nhẫn là chìa khóa để thành công. Những điều được trình bày đâu đó ở đây có thể là phương pháp phù hợp với bạn, và với sự kiên nhẫn và tận tâm, bạn sẽ đạt được kết quả như ý.

Sưu tầm

 
 

Thẻ: , , ,

 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.