RSS

Category Archives: Các giống gà

Quote

Mình mới xây dựng 1 diễn đàn dành riêng cho các bạn yêu gà cảnh. Hi vọng đây sẽ là sân chơi bổ ích, vui vẻ, thoải mái cho các bạn để giảm bớt stress sau 1 ngày làm việc bận rộn. Click vào link dưới đây để vào diễn đàn:

http://gaserama.com

Rất hi vọng nhận được sự ủng hộ và tham gia nhiệt tình của tất cả các bạn.

Mr Đức LC

Khai trương diễn đàn gà cảnh Việt Nam

 
1 phản hồi

Posted by on 20/06/2013 in Các giống gà

 

Gà vảy cá Sebright – hoa độc trong vườn!

Tom Franklin - http://www.angelfire.com/ab/sebrightbantam/pageone.html

Gà vảy cá (Sebright) – Giống gà tre độc đáo
Một đàn gà vảy cá luôn trông rất ấn tượng ở bất kỳ miền thôn dã nào. Tại rất nhiều nơi, số lượng gà vảy cá xuất hiện nhiều hơn bất kỳ giống gà nào khác. Vậy điều gì làm nên sự độc đáo của gà vảy cá?

Độ tương phản của bộ lông
Có hai biến thể màu được công nhận ở Bắc Mỹ, màu vàng (golden) và màu trắng (silver). Màu vàng thường phải đậm và đều, trong khi màu trắng phải thực sự trắng. Gà vảy cá nổi tiếng bởi chất lượng của vảy cá tức viền lông. Mỗi sợi lông đều có viền đen, khiến cho màu nền trông sáng và nổi bật hơn.

Mã lại (hen feathering)
Gà vảy cá trống có lông mã lại – điều đó có nghĩa lông mã và lông đuôi tương tự như gà mái và không hề có lông phụng vốn là đặc điểm nhận dạng ở gà trống nói chung. Ngoài gà vảy cá, giống gà Campine cũng có lông mã lại.

Mồng trà màu dâu tằm
Tất cả gà mái đều có mồng trà màu “dâu tằm” hay tím sẫm; dẫu khó được như vậy, hầu hết gà trống xịn đều có mồng phớt màu dâu tằm và viền mắt sẫm (dark eye cere). Vì vậy hãy quên đi kiểu mồng đỏ “thường thường”! Đặc điểm này bổ sung vào sự độc đáo của giống gà tuyệt vời này.

Kích thước gà vảy cá rất nhỏ
Gà vảy cá là giống gà tre chính hiệu (true bantam) bởi không hề có phiên bản to hơn. (Lưu ý, một số giống gà to con như gà Mỹ, gà Pheonix… đều có phiên bản giống hệt nhưng nhỏ con hơn).

Là giống gà tuyệt vời để nuôi kiểng, một bầy gà vảy cá cần rất ít thức ăn so các giống gà khác. Điều này đặc biệt đúng trong trường hợp gà được thả rông trong sân, vườn hoặc ngoài đồng. Không gì bận rộn hơn gà vảy cá bới tìm thức ăn trong sân vườn!

Kích thước nhỏ cũng giúp việc ôm gà rất dễ dàng. Trẻ em có thể chơi với chúng và một khi gà càng được chơi nhiều thì chúng càng dạn người.

Còn bây giờ, bạn đã hiểu vì sao mà gà vảy cá (Sebright) độc đáo chưa?


Hình vẽ một cặp gà vảy cá trắng trong Bản tiêu chuẩn (Standard of Perfection – 1905) của Hiệp hội Gia cầm Mỹ (American Poultry Assocciation)

Lịch sử

Dưới đây là một trong hai thuyết trái ngược về nguồn gốc của gà vảy cá.

Điểm thú vị là John Sebright cũng là người giới thiệu giống bồ câu Pygmy Pouter, một phiên bản tí hon của giống bồ câu Pouter Anh.

Tham khảoGolden and Silver Sebright Bantams, Bill Holland, pp. 2-3, American Bantam Association, 1980.

Vào khoảng 1800, Sir John Sebright quá cố bắt đầu lai tạo giống gà vảy cá (Sebright bantam). Việc lai tạo được thực hiện giữa một số giống gà tre phổ biến với giống gà Ba Lan (Polish fowl). Chúng được lai tạo mãi cho đến khi đạt được kích thước và đặc điểm mong muốn. Rồi tình cờ Sir John phát hiện thấy một con gà tre mã lại khi ông đi du lịch trong nước. Con gà trống mã lại này được lai với giống gà tre mới của ông do đó mà con cháu đời sau được thừa hưởng gien mã lại.

Theo cuốn “Poultry Chronicle”, Sir John kiếm được một con gà tre mái màu khét sữa ở Norwich: nó rất nhỏ với chân màu xám. Trong chuyến đó ông cũng mua được một con gà trống màu điều không có lông phụng với lông mã như gà mái ở Watford; và một con gà mái nhỏ tương tự như một con Hamburg vàng. Sau đó ông kiếm được một con gà trống nhạn từ Vườn Bách Thảo mà nhờ đó ông tạo ra biến thể trắng. Đây là mô tả về nguồn gốc của giống gà trước khi viền vảy cá xuất hiện. Chúng được gọi là gà tre công (pheasant bantam).

Sir John cũng thành lập một câu lạc bộ để thúc đẩy việc cải thiện giống gà của mình. Nó được đề cập trong cuốn “Poultry Chronicle” xuất bản năm 1855: “Sebright Bantam Club được thành lập từ cách nay 40 năm bởi Sir John S. Sebright quá cố và nhiều nhà chơi gà kiểng khác, những người đã nỗ lực hết mình để ghép bộ lông xinh đẹp của giống gà Ba Lan lên giống gà tre càng nhỏ càng tốt. Họ (Sir John, ông Stevens quá cố, ông Hollingworth quá cố, ông Garle và những người khác) bắt đầu công trình của mình bằng việc tuyển chọn những con gà Ba Lan tốt nhất và lai xa một cách cẩn trọng với gà tre, để dần đạt được mục tiêu của mình. Họ phải tuyển chọn những đặc điểm tốt nhất, loại bỏ lông bờm và lông đuôi dài, và giảm kích thước, duy trì hết sức có thể hình dáng thực sự khác biệt của giống gà. Điều này gần như đã thành công, nhưng thỉnh thoảng vẫn phải lai xa với gà tre đen, rồi liên tục lai cận huyết để dòng gà ổn định. Câu lạc bộ tổ chức họp mặt thường niên vào ngày thứ ba của tuần thứ 2 trong tháng 2 ở Brick Lane, nhưng vài năm sau chuyển vể tiệm cà-fê Gray’s Inn ở Holborn, hồi đó luôn hạn chế kết nạp người lạ, sau khi trọng tài trao giải. Câu lạc bộ khá khép kín, mọi thành viên mới đều phải được một thành viên cũ giới thiệu và bầu chọn. Lệ phí thành viên là 2 gi-nê mỗi năm đối với Thành viên Vàng, và cũng vậy với Thành viên Bạc để lấy inh phí làm giải thưởng. Tất cả gà phải là tài sản thực sự của người dự thi, được lai tạo bởi chính người đó và dưới một năm tuổi. Gà trống dưới 620 gram, gà mái dưới 510 gram. Gà trống không được có lông bờm dài, không có lông mã (mã lại), không có lông phụng; chúng phải có mồng trà, lưng ngắn, đầu và đuôi cao gần như nhau; màu nền, gồm màu vàng (gold) và trắng (silver) phải sạch và mỗi lông đều phải có viền vảy cá màu đen tuyền (không được có bông, đốm). Lông đuôi cũng phải có viền (tuy rất hiếm) và các viền ở cánh phải đen và rõ. Gà mái cũng phải có đặc điểm tương tự”.

Đây là thuyết thứ hai về nguồn gốc của gà vảy cá cùng với thông tin về sự phát triển của giống gà.

Tham khảo: Frank L. Gary, Sebright History – Golden and Silver Sebright Bantams, Bill Holland, pp. 24-25, American Bantam Association, 1980.

Moubray trong cuốn Domestic & Ornamental Poultry bình luận về nguồn gốc của gà vảy cá như thế này:

“Mặc dù người ta thường cho rằng John S. Sebright, cựu thành viên hội đồng hạt Herfordshire, Anh là ông tổ của gà vảy cá, và rằng nhờ quá trình lai tạo lâu dài và cẩn trọng hàng loạt giống gà tre phổ biến cùng với một số kỹ năng bí mật mà không ai có thể lý giải, đã tạo ra một giống gà hoàn toàn mới và khác biệt. Sir John không bao giờ công bố ông tạo ra gà vảy cá khi nào cũng như ông có phải là ông tổ hay không. Các văn bản chỉ lưu ý rằng vào thời mà giống gà xuất hiện, không có tuyên bố nào cho thấy Sir John là ông tổ của giống gà, mà ngược lại trong một văn bản xuất hiện ngay sau khi gà vảy cá ra đời, tác giả nói rằng giống gà đã hình thành, và Sir John là “một trong số những tay chơi chủ chốt” của giống gà này, dẫn đến kết luận rằng chúng bắt nguồn từ phương đông và có lẽ được Sir John nhập về và phổ biến một cách rất thành công”

Vào thời đó, gà vảy cá cực nhỏ, trọng lượng được giới hạn khoảng từ 850 đến 900 gram một cặp.

Tiêu chuẩn gà Mỹ (American Standard of Excellence) lần đầu xuất bản vào năm 1874 mô tả chúng như là gà “Laced Sebright” vàng và trắng. Biến thể vàng phải có màu vàng kim đậm và biến thể trắng màu trắng tinh. Dái tai được gọi là “tai điếc” và màu trắng. Da đầu được mô tả có màu đỏ, đương nhiên dính dáng đến mồng trong mô tả kế đó về lông đầu. Lông cánh gà trống được mô tả “chóp rất xệ, gần như chạm đất”. Gà trống trên 740 gram, gà mái trên 620 gram sẽ bị loại, không thấy quy định trọng lượng trống và mái non.

1875 – Tên được chuyển thành gà vảy cá (Sebright) vàng và trắng. Không thấy quy định màu của mồng. Gà trống trên 790 gram, gà mái trên 680 gram sẽ bị loại. Không có quy định về trọng lượng nào khác. Coi như 2 giống riêng biệt.

1879 – Lần đầu tiên, trọng lượng chuẩn được xác định gà trống 740 gram, gà mái 680 gram, gà mái tơ 620 gram.

1883 – Lần đầu tiên, tích được mô tả “đỏ tươi”. Cánh gà trống được mô tả “cánh xệ, nhưng không chạm đất”.

1888 – Trọng lượng điều chỉnh thành gà trống 740 gram, gà mái 620 gram, gà trống tơ 620 gram, gà mái tơ 570 gram.

1889 – Một giống phân làm hai biến thể, vàng và trắng. Lần đầu tiên, mô tả hình dáng và màu sắc được định nghĩa một cách riêng biệt.

1893 – Dái tai chuyển từ màu trắng thành “màu sắc không quan trọng đối với cả hai biến thể”.

1905 – Lần đầu tiên, Franklane L. Sewell (1905) vẽ hình minh họa gà vảy cá trống và mái trắng.

1910 – Bộ lông màu vàng kim (gold) chuyển thành vàng (yellow), bỏ từ “đậm”. Hình minh họa mới được thực hiện bởi Arthur O. Schilling (1910). Màu sắc chung rất nhạt chủ yếu do số lượng lông giảm và viền lông rất nhuyễn. Lần đầu tiên, đuôi gà trống và gà mái được mô tả phải đạt 70 độ so với đường ngang. Cá thể lố 100 gram so với trọng lượng chuẩn sẽ bị loại. Màu mắt của biến thể vàng chuyển từ sáng sang nâu, mặt và mồng của biến thể trắng chuyển từ đỏ tươi sang tím hanh đỏ.

1915 – Dái tai của cả hai biến thể chuyển thành “ưu tiên tím hanh đỏ”. Biến thể vàng chuyển từ “vàng” (golden yellow) sang “vàng thau” (golden bay). Hình vẽ gà vảy cá trắng mới được minh họa bởi Arthur O. Schilling (1914). Trong hình mới này, viền vảy dường như hơi dày hơn so với minh họa trước đó.

1920 – Dáng và lưng chuyển từ “ngắn” sang “rất ngắn”.

1952 – Hình minh họa mới bởi Arthur O. Schilling (1952).

1965 – Tiêu chuẩn của Hội gà tre Mỹ (American Bantam Association) ra đời. Đây là lần đầu tiên, bản mô tả hoàn chỉnh về hai biến thể gà vảy cá xuất hiện, cả về hình dáng lẫn màu sắc. Lần đầu, mọi thuật ngữ đều được định nghĩa một cách rõ ràng. Nhiều thuật ngữ trước đây chưa hề xuất hiện trong bất kỳ bản tiêu chuẩn nào bao gồm tiêu chuẩn của Hiệp hội Gia cầm Mỹ, Anh, Hà Lan, Đức và Pháp. Hơn nữa, những thuật ngữ hoàn chỉnh được áp dụng cho cả những giống gà tre khác, không thuật ngữ ngoại lệ nào dành riêng cho gà vảy cá.

Đánh giá

Theo trọng tài Rico Sebastianelli (28-3-1999)
Rico Sebastianelli, một trọng tài đáng kính, đã phát biểu về việc chấm điểm gà vảy cá như sau:

Với tôi điểm quan trọng nhất là “dáng chuẩn” (type). Tôi luôn quan tâm đến dáng. Gà vảy cá có lẽ hơn các giống gà tre khác ở điểm mà tôi gọi là “dáng chuẩn”. Tôi gọi nó là “dáng chữ S”, khi nhìn vào ngực, cổ và đầu. Bạn có thể có gà tre lông “vảy cá” nhưng một khi không có dáng chữ S thì chúng chưa thể là gà vảy cá (Sebright) được.

Điều nữa tôi để ý ở gà vảy cá là vùng đầu. Tôi ám chỉ đến bộ mặt màu dâu tằm ở gà mái, với mắt và mồng màu tối sẫm dễ thương. Ở gà trống, màu mắt cũng quan trọng. Mắt màu sẫm với mồng sẫm hơn. Mồng đỏ tươi là không đạt.

Hình lông cũng quan trọng. Bạn muốn kiểu lông ngắn và rộng, chóp lông tròn và không được nhọn.

Tôi thà chọn con gà dáng đẹp mà viền vảy cá xấu còn hơn con gà dáng xấu mà viền vảy cá đẹp. Dĩ nhiên, tôi cũng muốn thấy viền vảy cá sạch, đẹp hơn là lem nhem nhưng nhớ đừng đổ quá nhiều công sức vào đó. Tôi cũng muốn nói với các nhà lai tạo mới rằng, luôn xây nhà trước (chọn dáng) rồi mới sơn phết nó sau (nghĩa là chọn màu).

Theo trọng tài Paul F. Kroll (3-5-1999)
Tôi được Hiệp hội Gia cầm Mỹ (APA) cấp bằng đánh giá gà lớn và gà tre từ năm 1976. Tôi lai tạo gà tham dự triển lãm từ đầu những năm 1960 với một số kinh nghiệm từ đầu những năm 1950. Tôi chưa hề lai tạo và nuôi dưỡng gà vảy cá nhưng có kinh nghiệm nuôi một số giống gà tre “chính hiệu” như Rosecomb, d’Uccles và tình yêu đầu đời, gà tre nhật. Tôi luôn nuôi gà tre nhật; cùng với nhiều nhà lai tạo khác, tôi học cách đánh giá thông qua việc nuôi dưỡng và lai tạo chúng (khi thú nhận mình chưa bao giờ nuôi gà vảy cá, tôi không có ý chối bỏ trách nhiệm mà chỉ muốn nói rằng quan điểm của tôi là quan điểm của một trọng tài và người quan sát, chứ không phải của nhà lai tạo).

Tôi từng chấm điểm gà vảy cá ở một số hội chợ và cả triển lãm quốc gia nữa. Tôi luôn ấn tượng trước hình dáng nổi bật, nhí nhảnh và bộ lông khác biệt của gà vảy cá. Tôi có thể khẳng định rằng nhiều trọng tài thường sai sót khi chấm gà nhỏ bởi vì đấy là những con dáng chuẩn và sát với hình vẽ nhất. Gà lớn hơn (có lẽ kích thước/trọng lượng chính xác – tôi không biết nếu chưa đem cân) luôn trông có vẻ “lưng quá dài” khiến thân hình như quả thủy lôi, không như độ cong trên hình vẽ.

Tôi công nhận đấy là quan điểm cá nhân. Đấy là những điều tôi được học từ người thầy chính của mình, trọng tài Charles M. Burmaster. Charlie là người yêu thích nhiều loài sinh vật cảnh và cùng với Alex Duffy điều hành triển lãm Madison Square Garden danh tiếng vào năm ngoái.

————————————————————————————–

Ghi chú (vnrd)
*Thuyết cho rằng nguồn gốc gà vảy cá ở phương đông là có căn cứ bởi vì từ bao đời nay, người ta đã biết về gà nòi mã lại.

* Một số biến thể màu

Màu vàng (golden)

Màu trắng (silver)

Màu khét sữa (buff)

 
 

Thẻ: , , , ,

Các loài trĩ ở Việt Nam

Trĩ (pheasant) bao gồm các loài thuộc phân họ Phasianinae, họ Phasianidae, bộ Galliformes. Các loài như công (peacock), gà rừng (junglefowl), cút (quail) và gà gô (partridge) cũng thuộc họ trĩ Phasianidae, nhưng được xếp vào các phân họ khác. Trên thế giới, có tổng cộng 35 loài trĩ phân bổ trong 11 chi. Ở Việt Nam, đến nay phát hiện được 10 loài trĩ phân bố trong 5 chi, trong đó có đến 4 loài đặc hữu (gà lôi lam mào trắng, gà lôi lam mào đen, gà lôi lam đuôi trắng, gà tiền mặt đỏ) và 2 phân loài đặc hữu (gà sao, gà lôi vằn). Một số loài ở Việt Nam tuy được gọi là “gà” chẳng hạn như “gà lôi”, “gà tía”, “gà tiền” nhưng về phân loại, chúng thuộc về nhóm trĩ (pheasant). Tất cả các loài trĩ ở Việt Nam đều được bảo vệ và có tên trong sách đỏ.

Đặc điểm giới tính của trĩ phân hóa rất mạnh, con trống có màu lông sặc sỡ, đuôi dài, đa số có mặt và tích đỏ tươi. Trĩ trống to hơn nhiều so với trĩ mái và không tham gia vào việc nuôi con. Chúng ăn các loại hạt và côn trùng. Rất nhiều loài trĩ được người nuôi gia cầm ở khắp nơi trên thế giới ưa chuộng nhờ màu lông sặc sỡ của chúng. Ở Việt Nam, có một số người đã thành công trong việc nuôi chim trĩ đỏ để làm cảnh cũng như lấy thịt. Kỹ thuật nuôi trĩ cũng tương tự như nuôi gà nhưng chuồng trại phải rộng và bao kín để chim khỏi bay mất.

1. Trĩ đỏ hay trĩ đỏ khoang cổ (Phasianus colchicus) phân bố rất rộng trong hầu hết các quốc gia ở châu Á, chúng còn thâm nhập vào các nơi khác như Bắc Mỹ, châu Âu, Chi Lê, Hawaii, New Zealand và Tasmania. Tên được đặt theo thành phố cổ Colchis ở miền tây Georgia (tức nước cộng hòa Gruzia trong Liên Bang Xô-Viết cũ). Phân hóa hình thái rất mạnh với hơn 30 phân loài chia thành 5 (hay 6) nhóm dựa vào một số đặc điểm như sự hiện diện của vòng cổ màu trắng, màu lông ở gốc đuôi, và lông bao cánh. Nhóm trĩ vòng cổ trung hoa (chinese ring-necked pheasant) bao gồm những phân loài ở Trung Quốc, Đài Loan và miền bắc Việt Nam.

Phân loài ở Việt Nam là trĩ đỏ khoang cổ bắc bộ Phasianus colchicus takatsukasae (tonkinese ring-necked pheasant) phân bố ở các tỉnh phía bắc như Bắc Cạn, Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai, Quảng Ninh và Yên Bái. Theo một số tài liệu, trĩ đỏ còn được phát hiện ở những vùng xa hơn về phía nam như khu bảo tồn thiên nhiên Phong Điền (Thừa Thiên – Huế), rừng quốc gia Nam Cát Tiên, huyện Đức Trọng và núi Bidoup (Lâm Đồng) và khu bảo tồn U Minh Thượng (Kiên Giang) nhưng không rõ chúng thuộc phân loài nào.

Trĩ đỏ có đuôi dài và nhỏ, bộ lông có nhiều màu sặc sỡ; kích thước 60 – 80 cm. Trĩ trống trưởng thành có đầu, gáy màu nâu. Cằm, họng và cổ đen ánh xanh, mỗi lông có nhiều vằn ngang nhỏ, màu đen. Cánh nâu. Đuôi vàng phớt xanh với các vằn ngang rộng, màu đen ở giữa và màu tím ở hai đầu. Bụng nâu thẫm ánh đỏ. Sườn vàng cam óng ánh. Chim mái nhỏ hơn chim trống. Đầu và cổ nâu thẫm. Vai, lưng hung đỏ phớt nâu tím. Cằm và họng vàng xám có vạch nâu. Ngực, bụng và sườn xám hung.

Chim trĩ đỏ thường sống ở vùng đồi núi thấp, độ cao 800 m so với mực nước biển, nơi có nhiều cỏ, cây bụi và rừng thông. Không sống trong rừng rậm. Kiếm ăn lúc sáng sớm hay xế chiều. Vùng kiếm ăn thay đổi. Tối ngủ trong các lùm cây thưa. Trĩ đỏ bắt đầu sinh sản từ tháng 3. Chim trống gáy to, khàn khàn “ korrk-kok”. Tổ làm trên mặt đất. Mỗi lứa đẻ từ 10 – 16 trứng, ấp trong 26 ngày. Trĩ con sau 10 tháng có thể trưởng thành sinh dục. Thức ăn bao gồm hạt cỏ, cây lương thực, giun đất, mối, kiến và nhiều loại côn trùng khác.

Lưu ý: Trĩ đỏ là loài được nuôi làm cảnh rất phổ biến trên thế giới. Đa số đều bị lai tạp hoặc thuộc phân loài khác. Các cá thể này có thể xuất hiện tại Việt Nam qua đường nhập khẩu sinh vật cảnh. Không nên lai chúng với trĩ hoang dã nội địa để bảo tồn nguồn gien thuần chủng.

2. Trĩ sao (Rheinardia ocellata) phân bố từ Hà Tĩnh đến Bình Định trong các rừng kín thường xanh trên núi đất. Loài định cư, được phát hiện ở nhiều nơi trong vùng phân bố như vườn quốc gia Bạch Mã, rừng vùng đèo 41 ở A Lưới, khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ. Có hai phân loài, phân loài ở Việt Nam và trung Lào là Rheinartia ocellata ocellata, phân loài ở Mã Lai là Rheinartia ocellata nigrescens. Phân loài ở Mã Lai có mào dài và đốm sao rõ hơn.

Chim trống trưởng thành có bộ lông màu vàng da bò điểm các đốm trắng, nâu sẫm và đen, lông mày rộng màu trắng, mào dài màu trắng, đầu nhỏ, họng trắng nhạt, da mặt hồng, mống mắt nâu với lớp da màu xanh lam xung quanh mắt, mỏ đỏ, chân nâu. Đuôi thuôn và rộng bản (12 cm) với 12 lông vũ dài gần 2 mét (trong một thời gian dài, chúng được coi là loại lông vũ dài nhất trong số các loài chim hoang dã). Chim trống trổ mã vào năm thứ 3 nhưng đuôi chỉ đạt kích thước tối đa vao năm thứ 6. Trĩ sao mái có bề ngoài tương tự nhưng mào và đuôi ngắn hơn. Cả chim trống lẫn chim mái đều không có cựa.

Chim trống cất tiếng gáy hùa uối gọi mái từ tháng 3 đến tháng 6 hàng năm. Tiếng gáy rất to, vang xa và cất lên từng chập. Trĩ sao sinh sản khoảng từ tháng 4 – 8. Sở thú Sài Gòn lai tạo thành công trĩ sao lần đầu tiên vào năm 1996, được biết không nơi nào khác trên thế giới sở hữu phân loài trĩ xinh đẹp và quý hiếm này. Thức ăn của chúng chủ yếu là lá cây, hoa quả, sâu bọ, dòi, nhộng và các động vật nhỏ.


3. Gà lôi hông tía (Lophura diardi) phân bố ở Việt Nam, Lào và miền bắc Thái Lan, trong các rừng nguyên sinh, thứ sinh (nhất là rừng cây họ Dầu), rừng tre và nương rẫy rậm rạp có độ cao trên 600 m so với mực nước biển. Loài được đặt theo tên của nhà tự nhiên học người Pháp Pierre-Médard Diard (diard’s fireback, diard’s crested fireback, siamese crested fireback). Đây là loài chim xinh đẹp và trổ mã chỉ sau một năm. Mào dài và được trang điểm bởi túm lông màu đen-tím. Mặt và tích đỏ tươi, họng màu đen. Ngực, cổ và lườn trên màu xám với hoa văn lỗ rỗ. Hông màu vàng tươi (nên mới có tên trĩ “hỏa hậu” fireback), gốc đuôi màu ánh kim với tua hạt dẻ. Đuôi dài và cong với các tông màu đen, xanh và lục. Cánh màu xám với những vạch đen trắng; bụng và lườn màu đen. Mỏ màu vàng, cẳng chân và ngón màu đỏ. Giống như những loài gà lôi khác, cựa mọc khá dài nên cần phải tỉa để không làm gà mái bị thương khi giao phối.

Gà mái không nổi bật bằng gà trống nhưng cũng có hoa văn độc đáo khiến chúng trông hấp dẫn nhất so với gà mái của các loài trĩ khác. Gà mái không có mào, mặt và tích nhỏ hơn so với gà trống nhưng cũng đỏ tươi. Đầu, họng và cổ có màu nâu-xám; phần trước của ngực và lưng có màu hạt dẻ tươi. Phần sau của lưng, cánh và đuôi có màu hạt dẻ với màu đen và trắng lỗ rỗ. Mỏ màu xám sẫm, chân và ngón màu đỏ.

Gà trưởng thành vào năm thứ ba, có khi vào năm thứ hai. Gà trống có màu lông trưởng thành vào năm thứ nhất nhưng đuôi vẫn ngắn hơn so với gà trống trưởng thành. Kích thước từ 61-81 cm. Mùa sinh sản diễn ra từ tháng 5 đến tháng 7 hàng năm. Gà mái đẻ từ 5 đến 8 trứng và ấp từ 24-25 ngày.

4. Gà lôi lam mào trắng (Lophura edwardsi) là loài đặc hữu, phân bố ở khu vực bắc trung bộ gồm Thừa Thiên-Huế, Quảng Bình, Quảng Trị và Hà Tĩnh, trong vùng rừng rậm quanh núi đá vôi và rừng thứ sinh ở độ cao 50 – 200 m so với mực nước biển. Gà lôi mào trắng được cho là bị tuyệt chủng trong hàng chục năm trời nhưng mới được tái phát hiện gần đây. Loài được đặt theo tên của nhà động vật học người Pháp Alphonse Milne-Edwards (1835-1900), giám đốc Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Paris.

Loài gà nhỏ con, gà trống có màu xanh ánh kim với vô số tông màu khi được chiếu sáng. Lông ở lưng, cánh, bao cánh và đuôi đen với mép lông màu lam ánh kim. Đôi lông đuôi ở giữa nhọn, ngắn dần ở các đôi tiếp theo. Mào trên đỉnh đầu màu trắng và ngắn hơn so với các loài gà lôi khác, mặt và tích đỏ tươi, chân đỏ, đuôi ngắn. Mỏ lục vàng nhạt hay màu sừng. Gà mái nhỏ hơn nhiều với tông nâu chủ đạo và mào không hiện rõ. Mặt và mồng gà mái nhỏ cũng như nhạt màu hơn, chân đỏ. Gà trống trổ mã ở một năm tuổi. Mặc dù rất hiếm ngoài tự nhiên nhưng loài này xuất hiện nhiều trong môi trường nuôi dưỡng bởi trước đây người Pháp đã đem nhiều cá thể về châu Âu.

Trong môi trường nuôi dưỡng, gà sinh sản từ cuối tháng 3 đến tháng 6 hàng năm. Chúng dường như rất thích mưa và có lẽ là loài trĩ duy nhất như vậy. Mỗi lứa có từ 4 – 7 trứng màu kem hồng thẫm với các chấm trắng nhỏ. Thời gian ấp 24-25 ngày. Gà cha mẹ chăm sóc con rất tốt.

5. Gà lôi lam đuôi trắng (Lophura hatinhensis) là loài trĩ đặc hữu, phân bố hẹp xung quanh khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ ở Hà Tĩnh và Quảng Bình. Địa bàn ưa thích của chúng là các sườn đồi thấp và thung lũng ven suối có độ cao khoảng 50 – 200 m trong các khu rừng ẩm thường xanh nguyên sinh và thứ sinh, những nơi có tán rừng, nhiều cọ, mây song và tre nứa nhỏ. Trong địa bàn nói trên còn gặp cả gà lôi lam mào đen, gà tiền, gà so và trĩ sao. Về mặt di truyền, gà lôi lam đuôi trắng rất gần với gà lôi lam mào trắng nên có ý kiến coi nó như một phân loài của loài trên.

Gà lôi trống trưởng thành có mào lông màu trắng ở đỉnh đầu với mút lông đen. Sải cánh dài 245 mm. Đầu, cổ ngực và trên đuôi đen có ánh tím thẫm. Lông cánh đen, bao cánh đen có ánh xanh. Các lông bao cánh, lông ở lưng và bao đuôi có vệt ngang đen nhung ở gần mút lông. Đuôi đen và có 4 lông, ở giữa màu trắng tuyền (đặc điểm phân biệt chủ yếu với gà lôi lam mào trắng). Chim mái trưởng thành có kích thước nhỏ hơn chim trống và nhìn chung bộ lông có màu hung nâu sẫm. Chân đỏ. Da mặt đỏ tươi. Mỏ đen sừng.

Ghép đôi bắt đầu từ tháng 10. Mỗi lứa đẻ 5 – 7 trứng và cách nhau 2 – 3 ngày. Thời gian ấp 21 – 22 ngày. Vườn thú Hà Nội đã chăn nuôi thành công loài này. Kết quả theo dõi cho thấy gà lôi lam đuôi trắng hoạt động kiếm ăn mạnh vào hai thời điểm sáng sớm và chiều tà, giảm dần vào lúc trưa. Trưa nghỉ trong bụi râm mát. Tối ngủ trên các cành cây cao. Ăn nhiều loại thức ăn như thóc, ngô, lạc, chuối tiêu, nho, rau xà lách, giá đỗ, giun, châu chấu, ốc vặn…

6. Gà lôi lam mào đen (Lophura × imperialis) phân bố trong các cánh rừng của Việt Nam và Lào. Được Delacour & Jabouille mô tả vào năm 1924 từ một đôi chim mẫu bắt được tại Việt Nam. Tuy nhiên tần suất bắt gặp là rất thấp. Nó được tái phát hiện vào năm 1990, khi một con trống choai bị một người nông dân thu hoạch mây bẫy được. Một con trống choai khác bị bắt vào tháng 2 năm 2000. Gần đây, qua xét nghiệm ADN, người ta đã xác định được đấy là con lai tự nhiên của gà lôi vằn (Lophura nycthemera annamensis) với gà lôi lam mào trắng (Lophura edwardsi) hoặc gà lôi lam đuôi trắng (Lophura hatinhensis) chứ không phải là một loài riêng biệt. Vì vậy, các tổ chức BirdLife và IUCN đã đưa nó đưa ra khỏi danh sách loài bị đe dọa.

Gà lôi lam mào đen trông tương tự như một loài chim bí ẩn khác của Việt Nam là gà lôi lam đuôi trắng, nhưng to hơn, dài khoảng 75 cm, đuôi cũng dài hơn, mào và các lông đuôi màu lam sẫm toàn bộ trong khi gà lôi lam đuôi trắng có mào và các lông đuôi trung tâm màu trắng. Mặt và tích màu đỏ tươi, mào lam, chân đỏ thẫm và bộ lông bóng. Con mái mầu nâu với mào lông ngắn dựng đứng, đuôi và lông cánh sơ cấp màu đen.

7. Gà lôi trắng (Lophura nycthemera) là loài phân bố rộng từ tây nam Trung Quốc, đông Miến Điện, bắc Lào, tây nam Campuchia, đông bắc Thái Lan, miền bắc Việt Nam cho đến tận đảo Hải Nam. Đây là loài được đề cập đến nhiều nhất trong hội họa và thơ ca Trung Quốc thời cổ đại, nghe nói nó là cảm hứng cho sự sáng tạo con chim “phượng hoàng” thần thoại.

Phân loài chuẩn Lophura nycthemera nycthemera (không hiện diện ở Việt Nam, chỉ dùng để so sánh): gà trống có mào đen dài, cổ đen, bụng đen ánh xanh thép. Toàn thân màu trắng với những vạch đen. Đuôi dài, những lông ở giữa trắng tuyền. Mỏ xám, chân đỏ, mặt và tích đỏ tươi, nhất là vào mùa sinh sản. Gà trổ mã với bộ lông trắng vào năm thứ 2. Năm đầu gà trống thường có nhiều vệt đen trên ngực, trong khi hầu hết phần còn lại có màu nâu với những vạch xám nhạt. Gà mái có màu xám ô-liu. Gà mái nhỏ và mặt nhạt màu hơn nhiều so với gà trống. Gà thường trưởng thành khi đạt 2 năm tuổi, đôi khi sớm hơn. Gà sinh sản rất sớm vào cuối tháng 2 hàng năm. Mỗi lứa đẻ từ 6 đến 15 trứng và ấp trong vòng 26-27 ngày.

Phân hóa hình thái mạnh với tổng cộng 15 phân loài. Theo www.vncreatures.net, ở Việt Nam ghi nhận có 4 phân loài bao gồm: gà lôi beaulieu, gà lôi berlioz, gà lôi bel và gà lôi vằn. Nguyên tắc phân biệt các phân loài: càng vào phía nam thì lông đuôi càng ngắn dần, màu trắng càng giảm và màu đen càng tăng. So sánh chiều dài đuôi của các phân loài theo thứ tự phân bố như sau:

* Phân loài chuẩn Lophura nycthemera nycthemera: gà trống 550 – 700 mm, gà mái 240 – 320 mm.
* Gà lôi beaulieu (Lophura nycthemera beaulieui): gà trống 458 – 365 mm.
* Gà lôi berlioz (Lophura nycthemera berliozi): gà trống 380 mm.
* Gà lôi bel (Lophura nycthemera beli): gà trống 350 – 450 mm, gà mái 200 – 220 mm.
* Gà lôi vằn (Lophura nycthemera annamensis): gà trống 310 – 355 mm, gà mái 215 – 255 mm.

7a. Gà lôi beaulieu (Lophura nycthemera beaulieui) phân bố ở bắc bộ, từ tây bắc đến Hà Tĩnh. Đặc điểm tương tự như phân loài chuẩn Lophura nycthemera nycthemera, nhưng đuôi ngắn hơn một chút; những vạch đen ở phần trên cơ thể nhiều, rộng và đậm hơn những vạch đen ở cánh và cạnh đuôi.

7b. Gà lôi berlioz (Lophura nycthemera berliozi) phân bố ở bắc-trung bộ, gồm Quảng Trị, Quảng Bình và Thừa Thiên-Huế trong vùng rừng núi có độ cao khoảng 600 – 1500 m. Đặc điểm tương tự như gà lôi beaulieu ngoại trừ đuôi ngắn hơn.

7c. Gà lôi bel (Lophura nycthemera beli) phân bố ở trung-trung bộ, từ Quảng Trị đến Quảng Ngãi, trong vùng rừng thường xanh nguyên sinh và thứ sinh có độ cao trên 500 m. Gà lôi bel tương tự gà lôi berlioz, nhưng đuôi trắng hơn. Chúng kiếm ăn dưới mặt đất và ban đên ngủ trên cây.

7d. Gà lôi vằn (Lophura nycthemera annamensis) là phân loài đặc hữu, phân bố ở các rừng nam-trung bộ, cao nguyên Lâm Viên phía bắc Plâycu và đông bắc-nam bộ. Gà trống có mào dài, họng và toàn thể mặt bụng màu đen. Đặc điểm dễ thấy là một dải rộng màu trắng chạy dọc theo hai bên cổ. Lông dài ở ngực và sườn màu trắng pha lẫn đen. Mặt lưng có những vân đen mảnh xen kẽ với vân trắng, mỗi một lông có khoảng 6 tới 7 vân trắng hẹp. Cánh màu đen với một vài vân trắng; đuôi màu đen có nhiều vân trắng hẹp. Mắt màu nâu cam hay vàng. Mỏ đen hoặc màu xám sừng. Da quanh mắt màu đỏ tươi, chân đỏ tía. Gà mái có bộ lông màu nâu sẫm. Đuôi màu nâu hạt dẻ sáng, họng màu xám nhạt. Mào dài và có màu nâu sẫm. Lông bao cánh, vai và toàn bộ mặt lưng có những vệt hình mũi mác màu xám nhạt, những vệt này ở phía trên lưng có mép màu tối đục. Mắt nâu, mỏ ngà, chân đỏ tía.

8. Gà tiền mặt đỏ (Polyplectron germaini) là loài đặc hữu, phân bố ở phía nam nước ta từ Quy Nhơn vào đến Đồng Nai, trong nhiều địa hình rừng núi khác nhau kể cả rừng thông và tre nứa, nơi có độ cao khoảng 1200 m so với mực nước biển.

Kích thước trung bình khoảng 60 cm. Gà trống có những đốm tròn lớn màu xanh thép trên cánh vai và đuôi, lưng và gốc đuôi có màu nâu sẫm và không chấm tròn. Mào rất ngắn màu vàng cam, mặt màu đỏ. Gà mái nhỏ hơn, da mặt cũng đỏ và những đốm tròn trên đuôi rõ nhất so với các loài gà mái khác cùng chi.

Gà tiền thường phát tiếng gáy kéo dài đặc trưng vào các giờ khác nhau trong ngày. Lúc chạy thường xòe cánh và ít khi bay lên cao. Gà sinh sản hầu như quanh năm. Mỗi lứa, gà mái thường đẻ hai trứng màu kem và ấp từ 22-23 ngày. Thức ăn bao gồm trái cây và côn trùng.

9. Gà tiền mặt vàng (Polyplectron bicalcaratum) phân bố từ vùng đông bắc đến sườn phía đông dãy Trường Sơn, thuộc tỉnh Bình Định. Tuy vùng phân bố rộng nhưng gà tiền mặt vàng hiện còn rất ít. Trên thế giới, gà tiền mặt vàng xuất hiện ở Miến Điện, Thái Lan, bắc Lào, Vân Nam và đảo Hải Nam ở Trung Quốc. Có tổng cộng 5 phân loài; xét trên vùng địa lý, phân loài ở nước ta có lẽ là phân loài chuẩn phân bố ở Miến Điện và Lào Polyplectron bicalcaratum bicalcaratum.

Lông gà trống màu xám nâu. Mào màu nâu vằn trắng. Trên lưng, lông bao đuôi có vệt trắng xếp thành hàng. Cánh có nhiều sao tròn được bao ngoài bằng một vòng đen và một vòng trắng nhạt. Trên đuôi có nhiều sao lớn hình bầu dục màu vàng lục ngoài viền hung đỏ. Chân có hai cựa. Mắt trắng, da mặt vàng, chân xám. Gà mái gần giống gà trống nhưng kém mã hơn.

Sống định cư ở rừng, thích hợp là rừng già cây gỗ pha tre nứa trong các thung lũng hay chân núi đá. Sống đơn lẻ hoặc theo cặp. Kiếm ăn vào buổi sáng và chiều. Trưa bay lên cành cây thấp để nghỉ (thường đậu lên cây giang hoặc nứa đổ nằm ngang cao 3 m). Ngủ đêm trong bụi gian hoặc bụi cây. Trước khi bay lên cây ngủ thường kêu “kò kò …kọc, kò kò…kọc”. Gà tiền mặt vàng ăn quả mềm (đa, si, sung, vả) rụng trên mặt đất, các hạt cỏ dại và các loài động vật nhỏ (mối, kiến, giun, dế…). Mùa sinh sản từ tháng 3 đến tháng 5 hàng năm và thường nghe con trống gáy “koong kói koong kói”. Tổ làm trong hố đất nhỏ, nông và lót bằng lá khô. Mỗi lứa đẻ 2 trứng, vỏ màu vàng đất. Ấp 21 ngày. Con non mạnh khoẻ.

10. Gà lôi tía (Tragopan temminckii) phân bố ở Lào Cai, gần Sa Pa, nơi có rừng cây cối rậm rạp với độ cao từ 2000 – 3000 m so với mặt nước biển. Trên thế giới, loài này phân bố từ vùng đông bắc Ấn Độ, Miến Điện cho đến Trung Quốc. Tên được đặt theo nhà điểu học người Hà Lan Coenraad Jacob Temminck (1778-1858).

Đầu màu đen, mặt nạ màu xanh quanh mặt lan rộng vào mùa sinh sản; mào, cổ và ngực có màu đỏ-cam sẫm, một số con trống có cổ áo màu cam tươi; phần còn lại trên cơ thể màu đỏ thắm với những đốm xám ở ngực dưới và trên cánh, lưng và lông đuôi. Yếm màu xanh da trời với mảng đỏ-cam. Mắt nâu, mỏ đen, chân hồng. Gà trống non 1 năm tuổi nhìn chung giống gà mái nhưng kích thước hơi lớn hơn. Gà mái có thân trên màu hung đỏ cho đến nâu xám, với nhiều bông hình mũi tên màu khét sữa nhạt cho đến trắng xám. Cổ màu khét sữa cho đến trắng, với những vạch đen; thân dưới màu nâu nhạt với những đốm trắng và vệt đen lớn. Da quanh mắt có màu hơi xanh lam.

Gà lôi tía kiếm ăn và làm tổ trên cây. Thức ăn chủ yếu lá chồi, hạt và côn trùng. Trong môi trường nuôi dưỡng, gà trưởng thành vào năm thứ 2 và sinh sản vào cuối tháng 4 cho đến tháng 6 hàng năm. Mỗi lần đẻ từ 3 – 6 trứng và ấp trong 28 ngày.

Ghi chú
1. Gà tây Meleagris gallopavo (domestic turkey) đôi khi cũng được gọi nhầm là… “gà lôi”! Gà này xuất xứ từ Bắc Mỹ.
2. Gà sao Numida meleagris (helmeted guineafowl), còn gọi “gà trĩ” (rất dễ hiểu nhầm!), là giống ngoại nhập và không thuộc nhóm trĩ. Một số người nuôi gà này để lấy thịt.
3. Một số trĩ cảnh có nguồn gốc ngoại nhập, có lẽ từ Thái Lan hoặc Trung Quốc, chẳng hạn trĩ đỏ, trĩ trắng (có lẽ là trĩ đỏ bạch tạng), trĩ bảy màu vàngtrĩ bảy màu xanh, trĩ bảy màu đỏ. Đa số đều bị lai tạp, không nên lai với trĩ nội địa để bảo vệ nguồn gien thuần chủng.
4. Thông tin về gà lôi lam trắng lai với gà nhà:

Ngày 4.10.2008, tại bản Cựp – xã Húc Nghì, huyện Đak Rông, các chuyên viên về động vật rừng thuộc Chi cục Kiểm lâm Quảng Trị đã kiểm tra và xác nhận về sự tồn tại và phát triển của một con gà lôi lam trắng (động vật quý hiếm) được đồng bào Vân Kiều ở bản Cựp ấp nở. Bà con sau khi nhặt được 3 quả trứng trong rừng đã nuôi trưởng thành được gần 3 năm tuổi. Đây là gà lôi trống, dân bản nói rằng nó vẫn sống chung và giao cấu với gà mái nuôi trong bản, vì thế hiện có rất nhiều gà ở đây lai giống gà lôi. Kết quả lai này cho sản phẩm “gà nhà” ở bản Cựp thịt ăn thơm và ngon hơn nhiều so với gà nuôi thuần chủng trước đó.

Tham khảo
http://vi.wikipedia.org/wiki/Danh_m%…%E1%BB%87t_Nam
http://en.wikipedia.org/wiki/Pheasant
http://www.gbwf.org/pheasants/
http://vncreatures.net/hinhanh.php?p…loai=1&nhom=0&
http://220.231.117.38/bc/index.php?o…=194&Itemid=56

Sưu tầm

 
 

Thẻ: , , ,

Rosecomb – gà đeo khuyên bạc!

Rosecomb – gà đeo khuyên bạc!
Katherine Plumer - www.rosecomb.com

Lịch sử

Như những giống gà khác, có nhiều tranh cãi về nguồn gốc của giống gà rosecomb. Một số người cho rằng rosecomb là những con gà tre gốc, chẳng hạn như Bejach (1992), phát biểu rằng “Gà tre rosecomb có lẽ là con cháu trực hệ của cặp gà tre đầu tiên trên thế giới”. Những người khác cũng ủng hộ giả thuyết này, chẳng hạn như McGrew (1905), tuyên bố rằng “Nankin và rosecomb là những giống gà tre cảnh xuất hiện sớm nhất trên thế giới”. Ông cũng đưa ra ý tưởng rằng gà rosecomb chẳng qua là phiên bản tí hon của gà hamburg. Robinson (1924) cũng hỗ trợ cho quan điểm này khi giải thích rằng gà rosecomb ô và nhạn là phiên bản gà hamburg tí hon, và có lẽ xuất xứ từ Hà Lan. Nhưng cũng có ý kiến khác cho rằng “Gà tre gốc (tức rosecomb) xuất xứ từ đảo Java” (Bejach, 1992). Các biến thể ô và nhạn ở gà tre rosecomb được trưng bày lần đầu dưới tên “african” (tức “dân nhọ”) vào năm 1849, và thậm chí vào năm 1904 tại Hội chợ Thế giới tổ chức ở St. Louis (Ibid). Tuy nhiên, dẫu mang tên “african”, không có cơ sở nào cho thấy gà rosecomb xuất xứ từ châu Phi. Nguồn gốc được công nhận rộng rãi nhất, ít ra là với Hiệp hội Gà tre Mỹ (American Bantam Association) như trong bản Tiêu chuẩn Gà tre (Bantam Standard), đó là gà rosecomb xuất xứ từ Anh quốc, có lẽ từ năm 1493.

Ban đầu, từ “rosecomb” không ám chỉ bất kỳ giống gà riêng biệt nào, mà là tên chung của một số giống gà có dạng mồng trà. Mồng trà vốn được gọi là “mồng đôi” (double comb) để phân biệt với “mồng đơn” (single comb, tức mồng lá) của những giống gà khác. Những cá thể gà rosecomb đầu tiên có mồng chưa hoàn hảo và quá nhiều màu đỏ trên tai, và “theo một số nguồn đáng tin cậy, nhiều cá thể được chỉnh sửa hơn là lai tạo” (Bejach, 1992). Người trưng bày thường che đậy màu đỏ ở vành tai bằng màu trắng nhân tạo. Một số nghệ nhân chơi gà hồi đó thường “tỉa” mồng thành hình dạng thích hợp. Tôi nghe nói có nhà lai tạo cũng làm như vậy, hầu hết tố cáo đều xuất phát từ những người mua các con gà xinh đẹp này, chỉ để phát hiện rằng mồng của bầy con không như họ mong muốn.

Đương nhiên, gà rosecomb đã trải qua vô số cải tiến kể từ những ngày đầu tiên xuất hiện trước công chúng. Phần lớn công lao cải thiện giống gà đều nhờ những nhân vật người Anh. Enoch Hutton làm việc với giống gà trên bốn mươi năm, và đạt được những tiến bộ đáng kể trong việc cải thiện chúng. Ông lai biến thể nhạn và ô với nhau để đạt được chất lượng tốt nhất ở mỗi dòng. Ông cũng đưa những con gà trống hamburg ô cỡ nhỏ vào chương trình lai tạo, để cải thiện cả hai dòng và chất lượng lông của rosecomb. Tương tự, G.H. Pickering cải thiện rosecomb bằng việc lai mái nhạn với trống hamburg ô. Ông chọn trống hamburg thay vì trống rosecomb bởi vì vào thời đó, chất lượng lông và tai của gà hamburg tốt hơn đa phần gà rosecomb (Bejach, 1992). Vào năm 1483, ông sở hữu một lữ quán ở Anh và nuôi một bầy nhỏ gà rosecomb. Có lẽ, vua Richard III thường ở trọ trong lữ quán của ông nơi ngài để ý đến lũ gà với vành tai nổi bật và bắt đầu nuôi vài con. Điều này, dĩ nhiên, khiến chúng trở nên rất phổ biến trong giới quý tộc Anh thời đó, và sự phổ biến này được duy trì cho đến tận ngày nay (Ahiers, 1992). Mặc dù, nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của giống gà còn chưa rõ ràng, bạn có thể đoan chắc rằng nó không hề có yếu tố thương mại. Hầu hết mọi người lai tạo chúng để triển lãm, hay chỉ để “làm cảnh” quanh nhà.

Gà rosecomb có lịch sử triển lãm tương đối lâu dài. Người ta trưng bày chúng lần đầu tại Triển lãm Boston lần thứ nhất vào năm 1849 (Bejach, 1992) rồi chúng tiếp tục xuất hiện từ đó cho đến ngày nay. Dẫu thay đổi tùy triển lãm hay khu vực, số lượng rosecomb trưng bày ngày càng nhiều khi giống gà trở nên phổ biến. Theo Jeffrey (1979), hai mươi ba con rosecomb được trưng bày tại Triển lãm New York 1893, trong khi sáu mươi con được trưng bày tại Triển lãm New York 1903. Những triển lãm ngày nay có thể có từ nửa tá đến vài trăm con rosecomb tùy quy mô. Gà rosecomb cả trong quá khứ lẫn hiện tại được cải thiện cho mục đích triển lãm. Người ta nuôi và trưng bày gà đơn giản bởi vì họ thích vẻ bề ngoài của chúng. Tiêu chuẩn Gà tre liệt rosecomb vào một trong mười giống gà phổ biến nhất ở Mỹ. Chúng ngày càng phổ biến, nhưng dường như có nhiều nhà lai tạo ở bờ đông hơn là ở bờ tây nước Mỹ.

Nhiều người gặp khó khăn khi lai tạo gà rosecomb, và có rất nhiều nguyên nhân gây ra điều này. Tỷ lệ thụ tinh dường như luôn thấp ở gà rosecomb, mà chủ yếu bắt nguồn từ việc lai cận huyết quá sâu giữa các dòng trong nỗ lực bảo tồn giống gà. Trong nhiều năm qua, nhiều nhà lai tạo mà tôi biết đã lai xa với những dòng gà khác, chấp nhận thu về chỉ hai hay ba con mỗi năm (theo kinh nghiệm của tôi). Theo tôi đến nay, việc lai xa ít ra cũng đem lại những kết quả tuyệt vời <tham khảo Sự thụ tinh kém ở gien mồng trà>.

Tỷ lệ nở cũng có xu hướng thấp ở gà rosecomb và lý do duy nhất mà tôi được biết đó là phôi đặc biệt nhạy cảm với độ ẩm. Tôi nghe nói nhiều người gặp trường hợp này: phôi chết vào ngày ấp thứ mười bảy hay mười tám. Có lẽ nguyên nhân ở chỗ lồng ấp quá ẩm, nhất là vào giai đoạn nở, khiến gà con chết sặc bên trong vỏ. Giả sử gà có nở được, tôi thấy tốt nhất để chúng nở sớm trước mùa đông bởi chúng cần một thời gian dài để phát triển và ra lông đầy đủ.

Những người chơi gà rosecomb sẽ nói rằng chúng là những con gà đẹp nhất trên đời và vâng, có lẽ họ nói đúng . Nếu bạn chưa có con nào thì có lẽ đây là lúc bạn thử nuôi vài con gà xinh đẹp có nguồn gốc lâu đời này. Nào ta cùng nuôi gà đeo khuyên nhé!

Biến thể

Ô (black)

Điều (Black Breasted Red)

Điều nâu (Brown Red)

Điều xám (Blue Red)

Xám (Blue)

Xám mã đồng (Blue Brassy Back)

Đen mã đồng (Brassy Back)

Vàng xám (Lemon Blue) 

Bông (Mottled)

Bướm (Red Pyle)

Tóe (Splash) 

Nhạn (White)

Tiêu chuẩn

Trọng lượng

Gà trống: 740 gram
Gà trống tơ: 625 gram
Gà mái: 625 gram
Gà mái tơ: 570 gram

Hình dáng gà trống

MỒNG: trà — phía trước vuông vức, thắt dần đến gốc gai, nằm vững chắc và cân đối trên đầu. Bề mặt phải đều với những gai nhỏ và không có lỗ. Gai phải tròn từ gốc lên đến chóp (không được dẹp!), dài, thắt nhỏ dần, và hơi nhỏng lên.

MỎ: ngắn, mạnh và hơi cong.

MẶT: mịn màng – không có nếp nhăn, gấp hay râu ria.

MẮT: sáng, linh hoạt và to.

TÍCH: chắc, rộng, mịn màng, tròn trĩnh và không có nếp nhăn hay gấp.

TAI: sáng, bằng phẳng và cực kỳ tròn trĩnh. Trơn láng và đồng nhất, và nằm sát đầu. To so với kích thước của gà.

ĐẦU: trung bình, ngả về sau một cách kiêu hãnh.

CỔ: cong đều, nhỏ dần lên đến đầu và “nở” tại gốc.

BỜM: nhiều và phủ duyên dáng lên vai và lưng.

LƯNG: khá ngắn và rộng tính từ vai đến đuôi, trông hơi võng. Điểm nối với đuôi không bị gãy.

MÃ: nhiều và dài. Lông mã phủ đầy giữa chóp cánh với hông.

ĐUÔI: lông đuôi–góc 40 độ với đường ngang, dài nhưng không vượt quá lông phụng. Lông to. Lông phụng–to, dài và thật cong. Lông phụng thứ–rộng, nhiều và cong. Lông bao đuôi–nhiều và hơi cong.

CÁNH: dài, gọn gàng với chóp nằm ở khoảng giữa phía sau đùi, nhưng không xệ quá gối.

NGỰC: đầy đặn, tròn, hơi ưỡn và hướng ra trước. Nên vượt quá đường thẳng đứng kẻ từ chóp mỏ.

THÂN & HÔNG: thân–ngắn nhưng nở nang. Hông–phẳng, rộng và dày. Lông ngắn và dày.

CHÂN & NGÓN: chân–ngắn, khoảng cách vừa phải và song song với nhau. Chân phải ở chính giữa thân, ngay dưới lưng. Đùi–ngắn, mập ở trên và thóp dần đến gối. Cẳng–khá ngắn, tròn, trơn láng, vảy đều. Cựa–nhỏ, mịn, đóng thấp. Ngón–bốn ngón, thẳng, vảy đều và đẹp.

DÁNG VẺ: kiêu hãnh, cảnh giác, duyên dáng, lưng thể hiện một đường cong liền lạc từ cổ đến đuôi.

Hình dáng gà mái

*để tránh trùng lắp, phần nào không viết ra sẽ tương tự như gà trống*

CỔ: dài trung bình, tóp dần và cong đều.

BỜM: nhiều, phủ duyên dáng lên vai và lưng.

MÃ LẠI: lông nhiều, đầy đặn.

ĐUÔI: Gọn gàng, đầy đặn, dài, to và làm thành một góc 35 độ với đường ngang. Lông đuôi–rộng, dài. Hai lông trên cùng hơi cong. Lông bao đuôi– rộng, rất dài, chảy theo đuôi.

DÁNG VẺ: cảnh giác, duyên dáng và hoạt bát, lưng thể hiện một đường cong liền lạc từ cổ đến đuôi.

Đặc điểm loại

1) Gà trống tơ và mái tơ lem trắng ở mặt.
2) Mồng mấp mô hay cong theo dáng đầu.
3) Gai ngược.
4) Không gai.

Lỗi

1) Mồng thịt, lõm, lỗ hay quá to.
2) Gai dẹp hay không tròn.
3) Gai ngắn và gãy.
4) Mặt đen là lỗi NGOẠI TRỪ biến thể chuối xám (birchen) và điều nâu (brown red).
5) Lem trắng ở mặt.
6) Tai quá mỏng, trông căng phồng, có đĩa hay lỗ chính giữa.
7) Đầu nhỏ và hẹp.
8) Cổ không đủ dài, thẳng hay quá mảnh mai.
9) Lưng dài và/hay hẹp.
10) Ngực nông và/hay hẹp.
11) Lông đuôi hay lông phụng nhỏ, xệ quá thấp, hay có bề ngoài bù xù.
12) Đường gãy tại điểm nối giữa lưng và đuôi.
13) Cánh quá bó, quá xệ hoặc quá cao.
14) Lông quá xơ xác, dài, nhỏ và/hay xù (hay lông quá bó và ít).
15) Dáng vẻ kềnh càng.
16) Xương thô.
17) Dáng vẻ bất cân bằng ở phía trước và bù xù ở bên hông, trông giống như gà Lơ-go và Sumatra).

MÀU GÀ TRỐNG VÀ GÀ MÁI
*Tất cả các biến thể đều phải có tai trắng*

Thang điểm

TÌNH TRẠNG THỂ CHẤT (mọi biến thể): 10

TRỌNG LƯỢNG (mọi biến thể): 4

ĐỘ CÂN ĐỐI (mọi biến thể): 4

MỒNG (mọi biến thể): 9

TỔNG ĐIỂM: 100

Sưu tầm

 
 

Thẻ: , , ,

Gà tre râu d’uccle

Lịch sử giống gà tre chân lông
Gà tre râu d’uccle – còn gọi là barbu d’uccle (Uccle là địa danh ở Bỉ) – được lai tạo vào đầu thế kỷ 20 từ những con gà nhỏ, có lông ở chân vốn xuất hiện hàng trăm năm trước trên toàn cõi châu Âu. Trên thực tế, những con gà như vậy từng được Aldrovani mô tả vào đầu thế kỷ thứ 17 trong cuốn “Ornithologica”. Trong đó, Aldrovani phát biểu rằng gà trống có cổ và lưng màu nâu, cánh đen và ngực đen điểm đốm trắng, phần sau với đuôi trắng, mồng hoa (rosecomb) nhỏ và chân vàng với 5 ngón.

Dẫu đặc điểm chân vàng 5 ngón không trùng với hình minh họa, những đặc điểm khác đều có liên quan mật thiết đến tổ tiên ban đầu của giống gà tre râu d’uccle.


Gà chân lông được mô tả bởi Aldrovani.

Từ thời đó chúng ta đã có thể tìm thấy mọi bằng chứng về tổ tiên của giống gà tre râu d’uccle. Vài bằng chứng đáng chú ý: một bức vẽ của Albert Cuyp (1620 – 1691) thể hiện một con gà tre bốt (booted bantam – gọi nôm na la đi ủng, đi bốt) mái. Họa sĩ người Anh Albin vẽ những con gà bốt trông giống như những con mà chúng ta biết ngày nay. Cũng có một mô tả về những con gà nhạn rất nhỏ với lông chân trong “Sách về gia cầm” của Tegetmeyer từ năm 1866. Có một ghi nhận về những con “gà tre nhạn đi bốt” tham gia triển lãm Crystal Palace ở Luân Đôn vào năm 1833.


Gà tre d’uccle và everberg, vẽ bởi Delin vào năm 1950.

Hugo du Roi, chuyên gia gà người Đức (cái tên tiết lộ gốc gác Pháp của ông), trưng bày 5 cặp “millefleur”(“vạn hoa”) tại Triển lãm quốc gia Đức vào năm 1893. Entwistle viết trong quyển sách “Gà tre” từ năm 1894 rằng ở nước Anh, người ta đã lai tạo giống gà tre nhạn bốt.

Hàng chục những phát biểu như vậy xuất hiện trong các sách về gia cầm; tôi chỉ đưa ra một vài ví dụ. Từ đầu thế kỷ 20, những nhà lai tạo bắt đầu tuyển chọn những con gà dễ thương này dựa vào các đặc điểm vốn có của chúng.


Gà tre râu d’uccle millefluer ở Hà Lan, 1990.

Sự hình thành giống gà tre râu barbu d’uccle
Vào năm 1910, có 5 giống gà chỉ khác nhau đôi chút.

Người Hà Lan lai giống “sabelpoot krielen” mà ban đầu chúng không có râu, mặc dù vào năm 1910 họ đã nhập giống gà râu từ Bỉ và kể từ đó, gà có râu hay không đều được công nhận.

Người Đức tạo ra giống “federfussiges zwerghuhn”, cũng có râu hoặc không râu và chỉ khác giống gà sabelpoot Hà Lan đôi chút.

Một giống gà rất giống nữa là “boot bantam” (gà tre bốt) do người Anh lai tạo.

Người Mỹ cũng chẳng chịu kém cạnh. Họ lấy cả gà tre râu d’uccle từ Bỉ lẫn gà tre bốt từ Anh và tạo ra giống gà tre bốt millefleur; giống gà trung gian giữa sabelpoot và d’uccle.


Một cặp millefleur của tác giả.

Michel van Gelder, một người Hà Lan giàu có sống ở Brussels, có một ý tưởng trước mắt. Ông muốn một con gà chân ngắn và mập mạp với lưng ngắn và bộ râu rậm. Hay nói cách khác, một con gà râu antwerp, nhưng chân có lông và mồng lá. Ông trưng bày giống gà mới này lần đầu vào năm 1905.


Frans Smets bắt đầu lai tạo biến thể chuối xám vàng (yellow birchen).


Dáng đầu của một con gà râu d’uccle chuối xám vàng (yellow birchen).

Phải nói rằng van Gelder có khả năng ấp và nuôi dưỡng trên một ngàn con gà mỗi năm và đã từng làm; nhờ vậy ông có rất nhiều gà để lựa chọn.

M. van Gelder được Robert Pauwels hỗ trợ và Louis van der Snickt tư vấn cho chương trình lai tạo của ông, người Bỉ nổi tiếng trong việc phát triển mọi thứ từ các giống chó cho đến gia cầm. Ý tưởng gốc của van Gelder là tạo ra giống gà tre râu chân lông antwerp. Ông tìm kiếm gà tre chân lông phù hợp ở khắp nơi, thậm chí đến cả Rome. Ông cũng may mắn kiếm được cả tá gà tre chân lông, ít nhiều đều có râu từ bộ sưu tập của gia đình Verstraete. Số gà được chia sẻ giữa ông với người bạn Robert Pauwels.

Bắt đầu bằng cách lai giữa gà râu antwerp với gà tre chân lông, tiếp đó là quá trình lai cận huyết nghiêm ngặt, van Gelder đã thành công trong việc tạo ra dạng gà râu antwerp với chân rậm lông và mồng lá. Việc tại sao Van Gelder không chọn loại mồng hoa (rosecomb) hãy còn là câu hỏi với chúng ta sau nhiều năm trời; chỉ biết sau cùng ông nhắm đến việc lai tạo giống gà tre râu antwerp với chân lông. Và nếu chọn kiểu mồng hoa thì việc đó sẽ giúp ông thoát khỏi những thắc mắc dai dẳng. Dẫu sao thì giống gà tre râu d’uccle cũng đã ra đời.


Một con gà mái xanh đang nằm ổ.

Xuất hiện các biến thể d’uccle
Vào năm 1950, L. van der Snickt và M. van Gelder viếng thăm triển lãm Crystal Palace nổi tiếng ở Luân Đôn và mua một số gà tre bốt từ Entwistle. Một số con có râu và gốc gác từ Bỉ; những con khác không râu và gốc gác từ Hà Lan.

Với gia sản mới này, van Gelder đã thành công trong việc tạo ra hàng loạt biến thể màu mới cho giống gà râu của mình trong không đầy 4 năm. Đầu tiên là biến thể “millefleur” (“vạn hoa”), nhưng từ năm 1906 ông cũng trưng bày các màu trắng, đen và cú vằn (cuckoo).

Tại Hội chợ Quốc tế ở Brussels vào năm 1909, C.S van Gink, một họa sĩ và chuyên gia về gia cầm nổi tiếng người Hà Lan đã kết tội van Gelder lai giống gà sabelpoot của Hà Lan với đặc điểm râu chỉ để gọi nó là “giống gà Bỉ”. Những điều như thế này làm vẩn đục thú chơi, hơn nữa chính người Hà Lan đã nhập gà d’uccle để tạo ra gà sabelpoot râu.

Gà râu d’uccle phát triển nhưng không bao giờ phổ biến như gà râu antwerp, có lẽ bởi vì những nước láng giềng cũng có biến thể tương tự. Dẫu vậy nó hết sức được chào đón ở Anh. Sau năm 1912, nó trở nên phổ biến hơn so với gà bốt anh và sau Thế chiến I, “Câu lạc bộ gà tre Bỉ” được thành lập tại Anh và vẫn còn tồn tại đến ngày nay, trưng bày vô số con gà râu d’uccle hàng đỉnh!

Sau Thế chiến II, giống gà thoái trào ở Bỉ, mãi đến tận năm 1969, “Câu lạc bộ barbu d’uccle” mới được thành lập với tiêu chí phục hồi sự phổ biến của giống gà. Hiện tại, còn có một câu lạc bộ đặc biệt nữa “De Baardjes” (The Beardeds) với tiêu chí cải tiến ba giống gà râu của Bỉ kể cả các biến thể của chúng nữa.


Một con gà mái tơ màu sứ của Ben Verhoork (Hà Lan) tại Triển lãm Avicorni 2007.


Cận cảnh màu sứ và hoa văn. Biến thể màu này thường được lai với millefleur (bông) mà nó có thể tạo ra màu lavender trên cánh chậu của gà trống. Đời F1 có màu millefleur nhưng mang gien lavender. Màu nền dường như nhạt hơn, bởi vậy những nhà lai tạo kinh nghiệm có thể dễ dàng nhận ra những con mang gien lavender.

Biến thể màu
Ở Bỉ, giống gà này được công nhận có hơn 20 biến thể màu mặc dầu hầu hết đều có dạng “millefleur” – với màu nền đậm hơn so với sabelpoot – và dạng màu sứ (procelain). Những biến thể màu khác tương đối hiếm.

Vào năm 1969, chúng tôi bắt đầu lai màu sứ trắng-son (cổ màu golden); thực tế đó là millefleur mà màu đen được thay thế bằng màu trắng. Biến thể này có màu sắc độc đáo và xuất hiện với tỷ lệ rất nhỏ. Chúng tôi khuyên bạn nên lai với millefluer, bởi màu trắng có thể lấn lướt màu nền golden red.

Chúng tôi cũng lai màu sứ với màu nhạn, kết quả làm xuất hiện màu lavender, mà chỉ bao gồm hai màu isabelline (xám-vàng nhạt) và trắng. Biến thể màu này không ổn định và không được chuộng.


Màu sứ trắng son tại trại của Ben Verhoork (Hà Lan).


Cận cảnh biến thể màu sứ trắng son. Khi màu nền son/vàng trở nên quá nhạt, Ben lại lai với millefleur.

Có lẽ d’uccle màu cút (quail) được nhập khẩu từ Anh, sau này chúng ta không thấy nhiều ở đây nữa, nhưng lại thấy trong các triển lãm tại Anh. Biến thể màu cút làm giàu cho giống gà Bỉ, đặc biệt bởi vì nguồn gốc của màu này vốn từ các giống gà Bỉ, ngoại trừ gà tre Hà Lan (dutch bantam) cũng công nhận màu cút.


Gà tre râu màu cút tại trang trại của Frans Smets (Bỉ).


Gà trống màu cút & cút xanh.

Đặc điểm phân loại
Vào đầu thế kỷ 20, giống gà d’uccle được đặt một cái tên rất lãng mạn “fleur vivante de nos jardins” (nghĩa là “những bông hoa di động trong vườn”); cái tên cho thấy giá trị của chúng.

Như đề cập ở trên, nguyên nhân khiến giống gà xinh đẹp này kém phổ biến – theo chúng tôi – là bởi sự cạnh tranh của giống gà barbu d’antwerp ở Bỉ cũng như những giống gà tương tự khác ở các nước láng giềng.

Tuy nhiên, việc đánh giá – không phải lúc nào cũng ổn định – cũng là một trong những nguyên nhân. Không muốn ra vẻ “ta đây”, chúng tôi chỉ xin được đưa ra một nguyên tắc chủ yếu để phân biệt hai giống gà như sau: nếu kẻ một đường thẳng giữa hai chân, nhìn từ mặt bên. Với sabelpoot bạn sẽ thấy một hình ảnh rất hài hòa và cân đối, với một nửa nằm phía trước và một nửa nằm phía sau. Nhưng ở gà d’uccle lại khác: khoảng 60% nằm phía trước còn 40% nằm phía sau. Hơn nữa, barbu d’uccle có vẻ nhỏ nhắn và thấp hơn. Ba thùy râu rất đầy đặn và hướng về phía sau để kết hợp với lông bờm cong – mà chúng ta gọi là “boule” (“trái banh”). Thời trước người ta thường gọi đây là “đầu cú” (tête de hibou).


Hình phân biệt sự khác nhau giữa hai giống gà, đặc biệt là cái lưng dài ở sabelpoot. Bên trái là gà tre râu d’uccle do Delin vẽ, bên phải là gà sabelpoot do Van Gink vẽ.

Phân giống
Có một phiên bản gà d’uccle gọi là barbu de’everberg. Phân giống gà này tương tự như d’uccle về mọi khía cạnh nhưng hoàn toàn không có lông đuôi. Phiên bản này biến mất ngay sau Thế chiến II nhưng được tái tạo vào năm 1970. Cho đến tận ngày nay, rất ít người chuộng phiên bản này.


Gà mẹ millefleur với gà con millefleur và sứ.


Một cặp d’uccle sứ với bầy con. Mặc dù có râu nhưng gà trống vẫn lộ tích, có lẽ được lai với sabelpoot.


Bông (mottled) là một biến thể sẫm màu của millefleur. (Hình đen trắng một con gà tre râu d’uccle millefleur trên tạp chí SBHD tháng 3 năm 2003). Do vậy hai biến thể màu này có quan hệ rất gần gũi.

Chăm sóc
Để kết thúc, tôi xin nói rằng giống barbu d’ucccle đẻ tương đối tốt, trứng màu trắng nặng khoảng 35 gram. Gà mái có xu hướng nằm ổ và chăm con tốt. Giống gà không quá yếu ớt, mặc dù nên nhốt trong chuồng có mái, nền lót cát (khô ráo). Chạc có đường kính tối thiểu 5 cm và không đặt cao quá sàn 25 cm mặc dù chúng bay rất giỏi.

Để tham khảo thông tin về tiêu chuẩn, mỗi nước đều có tiêu chuẩn riêng, hãy tìm kiếm bản Tiêu chuẩn lưu hành ở nước bạn.

Qua bài viết, tôi hy vọng sẽ khiến bạn yêu thích giống gà xinh đẹp này, giống mà tôi đã lai tạo trong suốt 58 năm qua.


Gà bông tại trang trại của Ben Verhoork.


Gà mái tơ millefleur của Ben Verhoork.

Giới thiệu website:
Vereniging ter Promotie van Belgische Neerhofdieren: http://users.telenet.be/jaak.rousseau/ (có cả tiếng Anh)
The British Belgian Bearded Bantam Club: http://www.jatman.co.uk/belgians/
The Dutch Rare Belgium Bantam Breeders’ Club: http://www.zobk.nl/ (có cả tiếng Anh)
The Belgian bantam Club of Australia: http://users.tpg.com.au/channan/index.html

Sưu tầm

 
 

Thẻ: , , , , , ,

Ohiki – viên ngọc tí hon

Ohiki 尾曳 (尾=vĩ, 曳=duệ, “đuôi kéo lết”) là giống gà phổ biến và nhỏ con nhất trong số những giống gà đuôi dài ở Nhật Bản. Giống gà này xuất xứ từ tỉnh Koichi, cũng là quê hương của giống gà đuôi dài nổi tiếng onagadori. Cả hai dường như có quan hệ huyết thống, chẳng hạn chúng đều có một số đặc điểm chung, như thân mảnh, lông mềm như dải lụa và mọc nhanh. Một số ohiki được biết cũng thể hiện đặc điểm không thay lông ở một mức độ nào đó.

Khác phoenix/yokohama, ohiki là giống gà “lùn” chính hiệu và không tồn tại những biến thể lớn con hơn, chẳng hạn như giống gà phoenix/yokohama có hai biến thể, bình thường và nhỏ/gà tre (bantam). Trong phạm vi bài này, chúng ta sẽ gọi ohiki là gà lùn (dwaft) thay vì gà tre (bantam) bởi vì sự thiếu cân đối của các bộ phận trên cơ thể chúng. Gien lùn khiến gà có kích thước đầu bình thường, thân ngắn và chi nhỏ – đặc biệt hai chân dịch rất xa lên phía trước thân. Đây là đặc điểm trội, vì vậy gà con chỉ cần nhận một alen từ gà cha mẹ, và bởi vì đây không phải là kiểu di truyền liên kết – giới tính (sex-link), nên cả gà trống lẫn gà mái đều thể hiện kiểu hình gà “lùn”. Kiểu hình này rất giống với mô tả về một loại dị dạng tên là hypochondroplasia, tuy nhiên, lời khẳng định sau cùng xin được dành cho các nhà khoa học.

Gà ohiki thoạt nhìn cũng tương tự như giống gà tre nhật chabo 矮鶏 (矮=ải, 鶏=kê, “gà nhỏ”) nhưng nếu quan sát kỹ và nếu xét đến cả đặc tính sinh sản thì đây là hai giống gà hoàn toàn khác nhau.

Gà chabo có cả hai loại chân, cao và thấp, trong mỗi lứa gà. Nhiều con có cơ thể cân đối. Gien chân thấp ở gà chabo là gien độc (lethal). Bầy con có thể nhận gien chân thấp hoặc chân cao từ gà cha mẹ. Nếu bào thai nhận được hai alen chân thấp từ gà cha mẹ thì sẽ chết vào ngày thứ 18 khi còn trong trứng. Nhiều nhà lai tạo gà chabo lai gà trống chân cao với gà mái chân thấp. Điều này giúp gia tăng khả năng thụ tinh và giảm phần trăm trứng hư khi hai alen độc kết hợp với nhau.

Trong khi gien lùn hay gien chân thấp ở gà ohiki cũng là gien trội nhưng không chứa đựng yếu tố độc hại. Cặp gà ohiki cho ra bầy con mà toàn bộ là chân thấp và không trứng nào bị hư.

Giống gà đuôi dài tuyệt vời này được nhập khẩu vào châu Âu từ những năm 1990 và xuất hiện trong các triển lãm nội địa và quốc tế. Gà ohiki rất hiền lành, dễ nuôi và chăm sóc. Chúng dễ dàng chiếm được tình cảm của nhiều người ngay từ lần gặp đầu tiên.

Dẫu là giống gà thuần, gà ohiki cũng có nhiều biến thể khác nhau. Một số con thân dài trong khi một số con thân ngắn hơn và các đặc điểm này xuất hiện trong cùng một bầy. Những biến thể màu hiện tại bao gồm điều, chuối trắng và chuối lửa với mồng lá và tích trắng. Đuôi có kích thước 60-70 cm, 80-90 cm hay 150 cm tùy dòng. Dòng sau cùng được cho là thừa hưởng nhiều gien onagadori. Lông đuôi hao hao và mảnh như đuôi gà onagadori. Ở Nhật Bản, một số cá thể trông tương tự như phiên bản thu nhỏ của gà onagadori với lông đuôi dài đến cả mét rưỡi. Đa số gà ở châu Âu có kích thước đuôi cỡ trung bình 60-80 cm.

TIÊU CHUẨN GÀ OHIKI (NHẬT BẢN)

Mồng lá

Tai trắng

Mắt đỏ-nâu

Trọng lượng: gà trống 937 g, gà mái 750 g (gà tơ 600-750 g)

Màu lông: điều (black breasted red/red duckwing) hay chuối (black breasted silver/silver duckwing).

Góc đuôi 30 độ và kéo lê phía sau

Màu chân ô-liu, và màu này được phản ánh ở tai lẫn những lông đã ngừng phát triển và cứng dần. Chừng nào mà gà còn đang ở trong giai đoạn mọc lông măng, thì tai phản ánh màu chân và đây là đặc điểm rất đáng chú ý ở gà đuôi dài vì chúng cần nhiều tháng trời để “hoàn tất” giai đoạn phát triển lông đuôi. Bằng không, tai có màu trắng hanh vàng.

Mồng lá với kích thước trung bình so với gà nhỏ, không cực to như ở giống gà chabo. Kích thước mồng thay đổi tùy theo dòng hay màu nhất định. Lông cổ cực kỳ dầy và dài, gần như phủ kín vai. Lông mã dài ngắn khác nhau tùy cá thể, nhưng phải chấm đất và kéo lê từ 5 đến 15 cm. Độ dài lông mã rất khó điều khiển về mặt di truyền và đây là đặc điểm thường thấy ở tất cả các loài gà đuôi dài.

————————————————————————————–










Post bài sai Image_2 Image_3

Mã nhúng vào blog : 

 

Post bài sai Image_2 Image_3

Mã nhúng vào blog : 

 

Post bài sai Image_2 Image_3

Mã nhúng vào blog : 

 

Post bài sai Image_2 Image_3

Mã nhúng vào blog : 

Sưu tầm

 
 

Thẻ: , , , ,

Shamo – võ sĩ đạo xứ Phù Tang

Willem van Ballekom - www.aviculture-europe.nl


Chu shamo – một con gà shamo điển hình.

Shamo là giống gà chọi ấn tượng của Nhật Bản và ngày nay có lẽ là giống gà chọi phổ biến nhất ở trong và ngoài châu Âu. Có rất nhiều truyền thuyết xung quanh nguồn gốc và sự hình thành giống gà này. Người Nhật tin rằng tổ tiên của giống gà shamo được nhập khẩu vào Nhật Bản từ trước những năm 1600. Đấy là vào thời Edo. Ieyasu Tokugawa là vị tướng quân đầu tiên (shogun) cho phép các thương gia và thủy thủ giao dịch với các nước khác ở châu Á. Khoảng 350 thương thuyền Nhật được nhận “mộc đỏ” để đi đến nhiều địa điểm khác nhau ở châu Á. Rất nhanh chóng, một mạng lưới buôn bán được hình thành bao gồm Hội An ở Việt Nam, Manila ở Philippines và Pattani ở miền nam Thái Lan (mà thời đó còn gọi là nước Xiêm).

Vào năm 1632, tướng quân thu hồi giấy phép buôn bán và mọi giao dịch của Nhật Bản với thế giới bên ngoài đều bị hủy bỏ.Các thương gia Trung Quốc, Bồ Đào Nha và Hà Lan là những người duy nhất được phép giao dịch với Nhật Bản. Khoảng giữa những năm 1600 và 1632, Nhật Bản nhập khẩu nhiều giống gia cầm khác nhau. Nhờ kỹ năng lai tạo tuyệt vời mà người Nhật đã tạo ra hàng loạt giống mới theo các thể loại gà chọi (gamefowl), gà gáy (longcrower) và gà đuôi dài (longtail); cả cỡ to lẫn cỡ nhỏ (bantam).

Một trong những giống gà Nhật Bản ấn tượng nhất là shamo, giống gà này trông bắt mắt với một số đặc điểm rất đặc trưng. Theo người Nhật, cái tên shamo bắt nguồn từ “Sham” tức cách gọi từ “Siam” của người Nhật (nghĩa là Xiêm, tên gọi cũ của Thái Lan). Nghiên cứu bản đồ gien chứng tỏ rằng quần thể gà shamo lâu đời nhất được phát hiện ở đảo Okinawa (miền nam Nhật Bản).


Hình vẽ gà shamo của Rene Johannes – Hà Lan.

Người Nhật chia shamo thành các giống sau: O Shamo 大軍鶏 (đại quân kê), Chu Shamo 中軍鶏 (trung quân kê), Yakido, Nankin Shamo 南京軍鶏 (nam kinh quân kê), Yamato Gunkei, Kinpa và giống sau cùng nhưng rất ấn tượng: Ko Shamo 小軍鶏 (tiểu quân kê).

Trong bài viết này, chúng ta tập trung vào hai giống o shamo and chu shamo. Hai biến thể này được Hiệp Hội Gia Cầm Nhật Bản (Japan Poultry Society) chính thức công nhận; đây là tổ chức duy nhất về gia cầm ở Nhật Bản được Bộ Văn Hóa Nhật Bản công nhận.


Gà chọi Thái (gaichon) được coi là nguồn gốc của giống gà shamo – lưu ý sự tương đồng về hình dáng so với gà shamo (hình trên một con tem Thái Lan).

Hai giống o shamo and chu shamo hoàn toàn giống nhau. Những khác biệt duy nhất là về kích thước và trọng lượng. Hiệp Hội Gia Cầm Nhật Bản đưa ra các tiêu chuẩn sau: o shamo trống 5.6 kg, o shamo mái 4.8 kg; chu shamo trống 4.1 kg, chu shamo mái 3.0 kg (theo ông Yoshihisa Kubota, cựu phó chủ tịch hiệp hội). Mặc dù được công nhận ở Nhật Bản, chu shamo lại không được công nhận ở châu Âu. Chỉ có hai ngoại lệ là Anh và Ý. Ngày nay, người Ý đã thực hiện một bước rất tiến bộ tại các triển lãm là cân gà shamo trước khi thả. Tại sao lại có thủ tục này và câu chuyện đằng sau là gì? Mọi người đều biết rằng gà lớn con thường có lợi thế về thị giác. Đơn giản là chúng trông bắt mắt hơn. Các nhà lai tạo những giống shamo nhỏ con hơn cho dù hình dáng và các đặc điểm khác rất đẹp lại không hề có cơ hội chiến thắng vì sẽ nhận được đánh giá từ các vị trọng tài chẳng hạn: không đủ to, quá nhỏ, thân quá mập, quá nhẹ… Điều này có đúng không?


Gà o shamo mái. Một ví dụ tiêu biểu.


Gà o shamo trống. Một ví dụ với các đặc điểm điển hình của giống gà.

Gà shamo là một kết hợp hoàn hảo các đặc điểm về kích thước, cân nặng, sức mạnh, sự điềm tĩnh, bền bỉ và tốc độ. Với trò chọi gà, shamo là một võ sĩ thực sự và có thể đá theo nhiều kiểu: cựa thường hay cựa sắt. Tuy nhiên, gà shamo cũng được nuôi làm cảnh rất phổ biến. Những đại diện điển hình của giống gà này thu hút sự quan tâm mọi người trong các triển lãm, ít nhất là ở bề ngoài ấn tượng, phong cách võ sĩ và những đặc điểm rất đặc trưng khác.


Dáng đầu hoàn hảo của gà shamo mái: mạnh mẽ, mỏ ngắn, mắt cú vọ và lông mày lồi.


Dáng đầu hoàn hảo của gà shamo trống: mỏ ngắn, mắt trắng dã và lông mày lồi và không có tích.


Gà chu shamo mái dáng đẹp.

Hình dáng gà shamo rất độc đáo. Những đặc điểm sau đây là điển hình của giống gà: dáng đứng thẳng, cao, cổ dài và hơi cong, đầu tương đối hẹp nhưng rộng với lông mày lồi và mỏ ngắn dày. Mồng dâu ba khía (triple-peacomb), mắt trắng dã hay hanh vàng (gà tơ). Không có tích. Nọng trung bình. Cánh ép sát vào thân và vai nhô cao. Chóp cánh phải chấm hông. Phía trước đùi và ức không có lông. Đặc điểm độc đáo nhất của shamo là dốc lưng hầu như liền lạc với đuôi. Theo tác giả về shamo và gà chọi Hà Lan, ông A. van Wulfften-Palthe, thì giữa dốc lưng và đuôi chấp nhận một góc khoảng 15 độ. Đuôi phải dài, hẹp dần nhưng không được có quá nhiều lông. Đùi phải rất cơ bắp và lộ hẳn ra ngoài.

Chân của gà shamo phải có tỷ lệ giữa đùi và cẳng từ 1 đến 1.5 lần. Màu của cẳng từ vàng cho đến vàng với đốm đen (chỉ với gà ô). Cẳng chân màu xanh ô-liu và đen tuyền được chấp nhận ở các nước châu Âu như không được chấp nhận ở Nhật Bản (theo ông Yoshihisa Kubota, Hiệp Hội Gia Cầm Nhật Bản).


Bộ ba gà shamo chuối gồm một trống và hai mái.

Ở Nhật, nhiều biến thể màu được chấp nhận. Đáng tiếc là ở châu Âu, chỉ một số ít màu được chấp nhận mặc dù trên thực tế, gà shamo (như bất kỳ giống gà chọi nào khác) phải được đánh giá dựa trên hình dáng và các đặc điểm điển hình khác.

Gà shamo cũng có một số dòng “anh em” khác bên ngoài Nhật Bản. Đấy là các giống gà chọi shamo Brazil và shamo Đài Loan. Giống gà này cũng rất phổ biến ở châu Âu và những nơi khác; và ở một loạt nước khác cũng có những giống gà tương tự. Gà shamo Brazil và Đài Loan không được tiêu chuẩn hóa. Một lần nữa, chỉ có hai ngoại lệ là Ý và Anh.


Gà shamo Brazil.

Shamo là giống gà chọi rất ấn tượng và những võ sĩ đất Phù Tang này luôn thu hút được sự chú ý của rất nhiều người trong các triển lãm gia cầm. Về cách đánh giá, giống gà phải được đánh giá dựa trên kiểu (type), dáng, tỷ lệ và các đặc điểm điển hình khác của giống nòi. Đặc điểm võ sĩ không thể đánh giá chỉ qua bề ngoài nhưng theo quan điểm của tôi, một con gà chất lượng phải thể hiện tất cả những đặc tính của một con gà trống chừng nào mà nó hãy còn là gà chọi! Tiêu chuẩn lai tạo và đánh giá được áp dụng ở quê hương của giống gà shamo, Nhật Bản, cũng phải được áp dụng ở đây. Màu của gà chọi chẳng qua là tiêu chuẩn phân loại và không ảnh hưởng đến kết quả đánh giá của các trọng tài. Tuy nhiên, một số nhà lai tạo và đánh giá lại đặt nó làm tiêu chí hàng đầu! Sự phổ biến của giống gà shamo vẫn đang gia tăng và tương lai của dòng giống võ sĩ đạo (samurai) là rất sáng lạn… Xin chào tạm biệt ! (sayonara)


Gà chọi Đài Loan – một dòng shamo sơ và thuần.

Sưu tầm

 
 

Sumatra – giống gà chọi đuôi dài xứ vạn đảo












Nguồn gốc
Giống gà sumatra (ayam gallak) bắt nguồn từ đảo Sumatra, Indonesia. Đây là một trong những giống gà chọi lâu đời nhất và có ảnh hưởng di truyền đáng kể lên những giống gà đá khác. Tuy nhiên, có những nghi vấn về nguồn gốc thực sự của giống gà này bởi giống gà sumatra ngày nay và những con gà chọi trong quá khứ không hề có quan hệ huyết thống (theo giáo sư G. Kooy 1995).


Hình vẽ vào năm 1895 của một họa sĩ vô danh.


Một con gà trống sumatra do đại úy E. Duckworth (Anh) lai tạo vào năm 1906.

Bản sao thu nhỏ/gà tre (bantam) của gà sumatra đen được lai tạo ở Hà Lan. Ở Anh, gà sumatra trắng được tạo ra bằng cách lai xa với yokohama trắng; tuy còn rất nhiều việc phải làm để cải thiện chất lượng những con gà trắng này.

Cá thể đầu tiên được nhập vào Mỹ từ năm 1847. Nhờ màu lông ánh kim và vẻ ngoài duyên dáng mà chúng trở nên rất phổ biến. Vào năm 1883, giống gà sumatra được ghi nhận trong tiêu chẩn gia cầm Mỹ (Standard of Perfection). Vào cùng thời điểm, chúng du nhập và Đức và năm 1900, du nhập vào Anh. Ở Sumatra, giống gà chọi này vẫn được duy trì dưới tên ayam sumatra. Ở các nước phương Tây, gà sumatra được lai tạo chủ yếu với mục đích làm cảnh. Qua nguồn thông tin trên mạng, tôi nghe nói giống gà này được tái lai tạo cho mục đích chọi gà ở Pháp.

Đặc điểm
Gà sumatra có kích thước trung bình với bề ngoài giống như chim trĩ. Lưng có chiều dài vừa phải, lông mã dày. Đuôi dài và rậm. Lông phụng cong tại hai phần ba chiều dài và cụp xuống. Lông phụng không lết trên mặt đất được chuộng hơn. Gà mái cũng có đuôi tương đối dài nhưng chỉ những lông phụng trên cùng mới cong.


Lông mã xanh bóng của gà sumatra trống.


Gà sumatra có bộ lông rậm nhưng bó chặt chứ không bù xù. Chân lông cứng chắc.


Gà mái cũng có đuôi tương đối dài, những lông phụng trên cùng hơi cong ở đầu cuối.

Đầu gà nhỏ (còn gọi là đầu rắn) với mồng trích ba khía. Màu của mồng biến thiên từ đỏ đến tím.

Màu mắt càng sẫm càng tốt. Nhưng con ngươi và tròng mắt phải rõ ràng.

Cẳng chân có màu đen và bàn chân màu vàng. Có cả loại bàn chân màu trắng nhưng ở Hà Lan, chúng bị coi là lỗi loại. Ở Mỹ, bàn chân trắng không bị coi là lỗi và được chấp nhận. Một số dòng có nhiều cựa nhưng cũng có một số dòng mà cựa chỉ nhú mầm.

Gà trống cân nặng từ 2 đến 2.5 kg. Gà mái từ 1.8 đến 2.3 kg. Kích thước của vòng đeo chân là 18 mm. Gà sumatra trưởng thành hoàn toàn ở 2 năm tuổi. Đây là một yếu tố quan trọng cần cân nhắc trước khi đem gà tham dự triển lãm.


Bàn chân màu vàng.


Cựa đôi.

Màu sắc
Ở Hà Lan, chỉ có màu đen ánh kim mới được coi là màu chuẩn, ánh đỏ hay tím cũng tồn tại nhưng bị coi là lỗi. Ngoài ra còn có những màu khác nữa. Ở bán đảo Scandinavia người ta duy trì cả sumatra xám tro (blue). Ở Hà Lan, chỉ một số ít người duy trì màu xám tro. Ở Đức có một số cá thể màu đen-đỏ hay nâu sậm. Ở Anh và Mỹ có một số gà sumatra xám trắng (splash stag) nhưng đến nay chúng vẫn chưa được đưa vào tiêu chuẩn. Ở Bỉ có một số gà sumatra bờm đỏ (màu điều) được triển lãm nhưng những màu này cũng chưa được cập nhật thành tiêu chuẩn.


Một con gà trống già thuộc dòng gà Đông Đức.

Hành vi
Hành vi ở gà sumatra cho thấy chúng vẫn duy trì những đặc điểm của tổ tiên. Chúng thực sự thích đi dạo loanh quanh và cũng rất cảnh giác. Nếu cảm thấy bị đe dọa thì ngay lập tức chúng có thể bay qua hàng rào cao một cách dễ dàng. Nếu được lựa chọn giữa chuồng gà với một cành cây thì hầu hết gà sumatra đều chọn cách thứ hai. Bởi hành vi như vậy mà gà sumatra cần chuồng nuôi rộng rãi và chạc cây cao. Chúng cũng cần chạc để giữ cho bộ lông sạch sẽ và cơ bắp mạnh khỏe. Gà sumatra không đòi hỏi loại thức ăn cầu kỳ nào khác. Đôi khi chỉ cần tăng cường thêm một lượng chất đạm để kích thích lông phát triển.

Gà sumatra là giống gà mạnh mẽ với khả năng kháng bệnh cao. Bạn chỉ cần theo dõi bệnh viêm đường hô hấp mãn tính hay CRD (Chronic Respiratory Disease), một loại bệnh di truyền ở gà. Để giúp gà mạnh khỏe, tốt nhất nên giữ môi trường khô ráo và che chắn vào ban đêm.


Gà sumatra xám trắng.

Mặc dù là gà chọi, gà sumatra vẫn chấp nhận nhau ở một mức độ nhất định. Gà trống tơ có thể lớn lên cùng nhau sau khi sự phân cấp trong nhóm đã rõ ràng. Nhưng chúng cần không gian để tránh xa khỏi vùng rắc rối. Gà nuôi trong chuồng có vẻ ít cá tính hơn những con được thả rông. Nhà lai tạo chăm sóc gà của mình hàng ngày và đặc biệt những con gà tơ thể hiện sự tin cậy và cả ảnh hưởng nữa. Gà tơ được cho ăn bằng tay sẽ theo chân nhà lai tạo khắp mọi nơi. Gà được nuôi cùng chó và mèo sẽ quen với chúng và cảnh báo khi những động vật khác thâm nhập vùng lãnh thổ của chúng.


Gà mẹ với bầy gà con.

Nhờ dáng vẻ bề ngoài giống như chim trĩ mà gà sumatra trở thành bảo bối của khu vườn hay bãi chăn thả. Gà mái đẻ khá nhiều trứng mỗi măn và trứng có màu trắng. Gà mái chăm con rất giỏi. Nếu chim ác là (magpie) hay những loài “săn mồi” khác đe dọa gà con thì gà mái sẽ thể hiện hành vi mạnh mẽ nhất để bảo vệ con mình. Tôi từng được chứng kiến điều này rất nhiều lần. Bạn sẽ thấy bầy gà rất hạnh phúc khi được thả rông sau một thời gian dài bị cách ly trong chuồng (vì dịch cúm gà). Chúng đập cánh và nhảy, thậm chí còn giả vờ “đá” nhau nữa.

Tiếng gáy của gà sumatra hơi lạ nếu bạn mới nghe lần đầu. Nhưng gà trống vẫn gáy như bất kỳ con gà trống nào khác. Gà sumatra cực kỳ duyên dáng và bí ẩn. Chúng thực sự là giống gà có giá trị!

Hiện trạng
Ở Hà Lan, gà sumatra tương đối hiếm, mặc dù trên thực tế có đầy đủ các dòng và gà giống để lai tạo. Nếu so sánh ở tầm mức toàn cầu, tình trạng của giống gà là “nhạy cảm”. Vì vậy, cần tiêm chủng gà sumatra để không bị loại bỏ bắt buộc vì những quy định y tế. Lý do là để bảo tồn giống gà này như là một di sản văn hóa.

Sưu tầm

 
 

Thẻ: , ,

Onagadori – huyền thoại sống!

Lời đầu: một khi được tôn xưng là Vua Lông Vũ thì nhất định phải đi kèm với những huyền thoại, chuyện kể và truyền thuyết (cả có thực lẫn đồn thổi). Trong trường hợp của gà onagadori, nhiều con ở Mỹ và châu Âu vượt xa so với trí tưởng tượng và sự hợp lý. Những thành công trong việc lai tạo giống gà thuần dưỡng hiển nhiên có giá trị như là một hay hai câu chuyện thú vị, vì vậy tôi sẽ gắng tóm lược cho các độc giả câu chuyện về giống gà tuyệt vời này.

Đợt nhập khẩu gà đuôi dài đầu tiên vào châu Âu là gà “onagadori gốc” không thay lông (non-moulting). Tôi sử dụng tên gọi đặc biệt này vài năm gần đây cho những cá thể đuôi dài được nhập khẩu rải rác vào châu Âu từ những năm 1800. Gà onagadori được nhập khẩu rải rác trong hơn hai trăm năm qua với nhiều cấp độ chất lượng khác nhau. Theo tờ rơi “Festschrift” của Knut Roeder viết cho Hiệp hội Onagadori và Phoenix Đức, giống gà onagadori trở nên hoàn thiện như chúng ta thấy ngày nay vào thời Đại Chánh (Taiso, 1912 – 1926).

Đợt nhập khẩu vào Mỹ diễn ra trong giai đoạn 1930-1940, và sau đó vào những năm 1960 cho một xưởng làm mồi câu giả (fly-tying). Đợt nhập khẩu đầu tiên vào châu Âu bắt đầu từ những năm 1800, rồi sau đó vào các năm 1970, 1980 và 1990. Ở châu Âu có một đợt nhập khẩu đình đám qua “gia đình Wild” ở miền nam nước Đức vào những năm 1970 với gần 40.000 euro chi phí. Những đợt nhập khẩu gần đây cũng được ghi nhận: qua Anton Huijkmann ở Hà Lan những năm 1960, qua Willy Coppens ở Bỉ những năm 1970, qua Knut Roeder ở bắc Đức những năm 1990. Những cá thể duy nhất mà tôi biết, xuất hiện công khai và chính thức, nhờ những nỗ lực tột bậc của gia đình Wild và Coppens ở Bỉ mà đến giờ tôi cũng chỉ thấy qua hình chụp. Tôi tin rằng Coppens cũng là nguồn phát xuất đầu tiên của nhiều giống gà Nhật và những người chơi gà ở châu Âu vô cùng biết ơn ông. Theo chỗ tôi biết, tomaru, satsumadori, totenko, onagadori, shamo và những giống gà khác được giới thiệu lần đầu thông qua Coppens và con trai ông.

Có hai đợt nhập khẩu giống gà đuôi dài vào Mỹ. Đợt đầu là nhập khẩu chính thức qua Đại học Nam California và tác giả của bài viết trên tạp chí National Geographic vào năm 1970, tiến sĩ Dr Ogasawara mà những con còn lại đến tay Donald Barger ở California. Đợt nhập khẩu thứ hai diễn ra trước đó vào Hội chợ Thế giới 1940, những con còn lại đến tay Daniel Boone và sau đó được cải thiện và nâng lên một đẳng cấp cao hơn vào những năm 1960 bởi các nhà lai tạo bậc thầy John Kriner, Sr và John Kriner, Jr. Dòng gà của nhà Kriner sau đó đến tay Cy Hyde ở New Jersey, nơi mà từ đó lan ra toàn nước Mỹ dưới tên gọi “phoenix – onagadori.” Với những dòng gà ở Mỹ, chỉ những phát hiện gần đây về đặc điểm di truyền tương tự như bộ lông của gà onagadori mới khiến các nhà lai tạo bắt đầu tái tuyển chọn đặc điểm không thay lông ở gà trống tơ 3-5 năm tuổi. Nhiều dòng gà, thậm chí cả dòng thuần, cũng bị mất gien không thay lông đặc trưng, điều giúp chúng khác biệt với những giống gà còn lại. Ở những dòng gà mà tôi biết, chỉ có các dòng của Barger, Hujkmann, Coppens và Roeder là còn giữ được gien “thuần”. Và trong số đó, các dòng của Coppens và Roeder được pha trộn, phát triển và cải tiến nhiều nhất.

(LƯU Ý: việc mang trứng gà ra khỏi Nhật Bản vẫn đang BỊ CẤM bởi Luật Bảo Vệ Di Sản Tự Nhiên. Trứng của các giống gà trong diện bảo vệ không được phép mang ra nước ngoài).

Thông tin đề cập ở đây không chỉ về những cá thể mà tôi đang nuôi mà còn về 5 dòng gà mà tôi biết: Cy Hyde (Mỹ), Anton Huijkmann (Hà Lan), Brian Reeder (Kentucky – Mỹ), Donald Barger (California – Mỹ) và Knut Roeder (Đức).

Tôi tổng hợp từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau. Hình minh họa thứ nhất lấy từ một tạp chí cổ ở San Marco mà tôi đấu giá được. Có một chú thích ngắn ở bên dưới rằng đây là một “hiện tượng.” Hình minh họa này được đăng vào năm 1921, thời mà giống gà onagadori và con cháu của chúng đã trở nên nổi tiếng và trở thành huyền thoại.

Hình minh họa thứ hai, một con gà tại trại của nhà lai tạo Donald Barger ở California, đấy là một trong những con onagadori màu điều đẹp nhất ở Mỹ. Dòng gà của Donald được phát triển từ những con mà tiến sĩ Ogasawara lấy từ Đại học California và một số từ dòng của Cy Hyde. Những cá thể mà Knut Roeder hiện đang sở hữu có lẽ là những con onagadori được nhập khẩu gần đây nhất ở phương Tây; thể hiện chất lượng lông và độ dài ở đẳng cấp cực cao.

Hình minh họa thứ ba là dòng onagadori màu chuối lửa nhạt (goshi) của Hà Lan, được lai tạo trong hơn 20 năm bởi Anton Huijkmann gần Zwolle. Trong hình là một trong số gà của chính tôi vào năm 1988. Dòng này mang gien không thay lông với bộ lông đặc biệt dày. Chẳng may, không có con gà trống nào sống quá 3 tuổi do đó đuôi không bao giờ dài tới 2 m. Dòng này được phát triển từ những trái trứng lấy từ Nhật Bản vào cuối những năm 1960. Đột biến trắng xuất hiện từ biến thể màu điều nhạt akazasa, đi kèm với chân màu ô-liu. Biến thể trắng ở Nhật Bản chỉ có chân màu vàng. Biến thể màu chuối goshi (goshiki) có lông cực dày, nhiều con có vài ba cặp lông phụng đột biến được săn lùng rất dữ. Nhiều bạn hữu chơi gà người Đức của tôi không cho rằng đây là gà onagadori thuần bởi vì chúng không giống với những con gà của vợ chồng Manfred và Hildegard Wild ở Steinmauer mà những con onagadori thuần của họ được lai với gà lơ-go (leghorn) với mục đích cải thiện thể chất vốn rất yếu ớt của chúng.

Tất cả gà của tôi đều mua từ Knut Roeder vào 1990. Ông nuôi chúng trong vài năm, triển lãm tại hội chợ và rồi “đẩy” tất cả đi khi ông bắt đầu ấp được trứng gà onagadori. Hầu hết lứa gà đầu đều được bán từng con – nghĩa là không kèm gà mái. Một số cá thể thuộc dòng này vẫn còn sống đến ngày nay ở châu Âu. Nếu bạn đang giữ chúng thì hãy cho tôi biết nhé.

Những con gà còn lại của Anton được trao cho con rể, người tiếp tục nhân bầy gà đến số lượng 85 con cho đến khi bị nhiễm chất thải độc có lẽ giữa vào những năm 1950, chất độc thấm vào chuồng nơi nhốt những con dê Cashmere và gà onagadori. Tất cả chết hết trong vòng ba ngày.

Minh họa thứ tư là con gà mà tôi ấp từ trứng mua từ trang trại của Cy Hyde ở New Jersey, Mỹ, đây là dòng phát triển từ những cá thể tại Hội chợ Thế giới tổ chức ở Chicago vào năm 1934. Con gà này đại diện cho những con mà tôi ấp từ trứng. Màu chuối bạc (silver duckwing) sạch và sáng, chúng mạnh mẽ hơn so với dòng Hà Lan yếu ớt nhưng không nhiều lông bằng. Chúng không thể hiện gien “nm” và vẫn thay lông như bình thường. Gà của Cy Hyde được bán khắp nước Mỹ và được lai tạo với nhiều cấp độ thành công khác nhau từ Phoenix đuôi cực dài cho đến onagadori chất lượng thấp. Khi tôi viếng thăm trang trại của ông vào cuối những năm 1980, ông có vài con trống với đuôi dài gần 2 m nhưng đa phần đều ngắn hơn và được thả rông ngoài trời và thể hiện những tổn thương đuôi điển hình ở gà đuôi dài trong môi trường bùn đất ẩm ướt. Hầu hết báo cáo mà tôi lượm lặt trên mạng chỉ ra rằng dòng này cũng bị suy yếu vì lai cận huyết quá sâu với mục đích duy trì dòng thuần. Tuy nhiên, dường như việc tuyển chọn sai đã xảy ra trong nhiều thế hệ nên nhiều cá thể gà của ông không có gien “nm” mà trong những điều kiện thích hợp nhất, chúng sẽ tạo ra loại lông không bao giờ thay.

Một vài dòng gà không thay lông mà tôi nghe nói vào năm 2001 và tiếp tục được phát triển dưới chế độ chăm sóc đặc biệt. Tôi xin giới thiệu sự phát triển của dòng gà phoenix mới, không thay lông ở Mỹ. Điều rất hứa hẹn là một số nhà lai tạo tâm huyết ở Mỹ đang làm việc để phục hồi hoàn toàn đặc điểm không thay lông vốn hiện hữu ở dòng gà gốc. Kết quả có vẻ rất khả quan vì nghe nói một số cá thể đặc biệt trong chương trình lai tạo không hề thay lông ở 4 và 5 tuổi.

Tôi xin trích dẫn lời của Brian Reeder mô tả về di truyền của giống gà đuôi dài:

“… “gt” không phải là gien chịu trách nhiệm cho sự thay lông. Đấy là gien chịu trách nhiệm cho sự tăng trưởng về độ dài của đuôi và các lông phụng hàng năm, dẫu cho gà có thay lông hay không. Chính alen “gt” khiến bầy lai F1 có đuôi dài hơn gà thường nhưng lại ngắn hơn gà đuôi dài bởi nó là gien đồng trội (co-dominant), thể hiện một phần ở đời F1. Gien không thay lông “nm” (non-moulting) hay “ns” (non-shedding) là gien lặn do đó đời F1 bao gồm toàn cá thể thay lông. Còn một gien thứ ba ở gà onagadori thuần là gien lông mã “sg” (saddle). Gien “sg” khiến cho lông mã dài ra giống như gien “gt” đối với lông đuôi và độc lập với gien “gt”, do đó đôi khi chúng ta thấy gà phoenix với bộ đuôi tuyệt vời nhưng lông mã không đủ dài và ngược lại. Gien lông mã có thể kết hợp với gien không thay lông như ở gà onagadori, nó có thể xuất hiện ở những cá thể phoenix thay lông hoặc không xuất hiện ở những giống gà đuôi dài như cubalaya hay sumatra. Onagadori là ví dụ về giống gà duy nhất kết hợp được cả ba gien trên dưới dạng đồng hợp tử và do đó là đỉnh cao đích thực của nghệ thuật lai tạo.”


Cá thể onagadori nhạn với lông mã phát triển tốt (sg) nhưng thiếu gien đuôi dài (gt).

Tôi mong muốn đề cập đến sự khác biệt giữa giống gà onagadori thuần với onagadori lai hay còn gọi là phoenix-onagadori với đầy đủ hình minh họa và mô tả về cả hai. Để làm được như vậy, tôi phải đề cập đến những đặc điểm quan trọng của giống gà onagadori thuần trước…

Onagadori, “giống gà cao quý nhất”, được bảo vệ bởi chính quyền Nhật Bản trong nhiều năm trời và và được coi như là Bảo Vật Sống trong văn hóa Nhật Bản. Giống gà onagadori và giống gà phoenix do phương Tây lai tạo, có quan hệ nhưng không phải là một. Có nhiều nhầm lẫn ở Âu Mỹ về hai giống gà này bởi vì gà phoenix, ở hai bên bờ Đại Tây Dương, là sản phẩm lai tạp của gà onagadori. Gà onagadori là Bảo Vật Sống thuần và hiếm của các bậc thầy lai tạo và độc đáo ở phần trăm lông phụng, lông măng cũng như lông mã phát triển suốt đời. Gà mái cũng tương tự như gà mái của những giống gà lông dài khác về một số phương diện. Như những giống gà khác, có nhiều cấp độ chất lượng ở gà onagadori: cấp độ cao nhất là những con có từ hai đến ba cặp lông phụng và từ 60 đến 70% lông đuôi không thay. Chất lượng của gà onagadori cũng phụ thuộc rất nhiều vào cách nuôi dưỡng và gà với chất lượng di truyền cao nhất cũng không thể phát huy được độ dài mong muốn nếu chế độ nuôi không thích hợp. Kết quả nghiên cứu tại Nhật Bản của tiến sĩ Fritzsche chỉ ra rằng gien “gt” chịu trách nhiệm về độ dài của đuôi gà.

“Kết quả thí nghiệm thực hiện trên gien tăng trưởng đặc biệt này, chứng tỏ rằng việc đạt được mục tiêu là cực kỳ khó khăn, bởi vì biểu hiện của những yếu tố di truyền không chỉ dựa vào những gien nhất định mà còn vào những bí quyết chăm sóc và nuôi dưỡng giống gà, tất cả chúng dường như đều đóng một vai trò nhất định trong đặc điểm không thay lông.”

Để lai tạo, bạn phải nuôi nuôi một số gà trống trong môi trường cách ly, không căng thẳng, điều kiện nhiệt độ phù hợp nhất với giống gà đuôi dài. Một khi được chọn, đuôi của những con gà này được tỉa và thả chung với một nhóm gà mái tuyển, vốn là những con từ bầy mà gà cha không thay lông. Một khi gà onagadori được đem lai tạo, việc gia tăng hoạt động sẽ khiến lông măng (blood feather) trở nên khô và chịu tác động của quá trình thay lông bình thường. Chỉ bằng cách này bạn mới có thể phát hiện và duy trì gien không thay lông trong bầy gà giống. Một ví dụ thực tế: các hậu duệ onagadori thuần của Cy Hyde bị mất gien không thay lông dưới mọi hình thức vì sai sót trong tuyển chọn. Tôi nghe nói rằng có những dòng nhất định phát triển từ gà giống của ông đôi khi xuất hiện một hay hai cá thể không thay lông và chúng được sử dụng để củng cố tính trạng này.

Để hiểu hiểu hết ảnh hưởng của gien này lên sự tăng trưởng của lông đuôi, tôi đã chụp hình những con onagadori để minh họa.

NUÔI DƯỠNG
Gà onagadori mái đẻ và ấp trứng giỏi nên có thể chăm con mà không gặp vấn đề gì, nhưng nếu nuôi số lượng lớn thì tốt nhất nên ấp nhân tạo và nuôi gà con trong chuồng ấm và khô. Điều quan trọng là tuyển chọn và tách nuôi những con gà trống chất lượng thật sớm. Quá trình tuyển chọn dựa vào tính tình (gà quá dữ sẽ tự cắn đuôi của chính mình, gà hiền lành và thuần dễ nuôi thành công hơn), số lượng lông đuôi (mỗi con gà trống phải có trên 40 lông đuôi và lông phụng) và lông mã. Những đặc điểm khác tùy thuộc vào tiêu chuẩn ở mỗi quốc gia bao gồm: mồng, tích, xương ức, cẳng và ngón.

Cần lưu ý rằng giống gà onagadori, vốn phát triển trong vùng khí hậu ôn hòa của đảo Shikoku, miền nam Nhật Bản, phù hợp với khí hậu không quá nóng hoặc lạnh. Nếu nuôi ở vùng lạnh hơn thì nên sưởi chuồng. Nếu nuôi ở vùng nóng hơn thì cần tạo bóng mát (cây cối…) và thông thoáng. Nếu gà đột nhiên bị căng thẳng, chẳng hạn như bị rượt đuổi (bởi chó, mèo hay trẻ con), chúng có thể phản ứng bằng cách gồng cứng lông rồi sau đó thay hết những lông này. Gà trống dùng để lai tạo thường bị rụng 3/4 số lông không thay (non-moulting) trước đó vì những hoạt động mạnh bạo khi bắt cặp. Một con gà trống của bạn tôi ở Đức, Knut Roeder, khi được đem về chuồng nuôi riêng thì nhanh chóng mọc đuôi lại.

Tôi có những con gà tương tự như vẹt thuần dưỡng, chịu đứng trên vai tôi và đuôi của chúng được rửa và hong khô bằng máy sấy tóc. Lông gà onagadori rất mềm ở phần ngực, chẳng hạn, bạn có thể thổi vào đám lông và chúng sẽ nhúc nhích và dựng lên. Lông cứng là dấu hiệu của lai tạp.

Cần hết sức cẩn trọng khi lựa gà mái. Nguyên tắc tương tự như với gà trống là đuôi phải nhiều lông, lông phụng dài và lông mã dày.

MÀU SẮC
Các biến thể màu sắc được biết ở giống gà onagadori gồm:

SHIROIRO = trắng (nhạn)
AKAZASA = điều (black breasted red/red duckwing/”red bamboo”/akasasa)
SHIROZASA = chuối bạc (black breasted silver/silver duckwing/shirofuji/shirafuji)
GOSHIKI = chuối lửa/ngũ sắc(black breasted golden/golden duckwing) (đôi khi được gọi là goshi – một biến thể rất nhạt của màu điều AKAZASA, mà nhiều người Nhật tin là màu của con onagadori đầu tiên)
SHOJO = khét (golden red-black tail/black-tailed buff) (màu khét được cho là đã tuyệt chủng từ cuối những năm 1980. Hiện nay, nhiều người Nhật đang nỗ lực tái tạo biến thể màu này bằng cách lai tạo những con cùng huyết thống với những con được xuất khẩu trước đây)

Gà onagadori màu nhạn phải có chân vàng với tai trắng hanh vàng. Màu chân khác ở gà nhạn là xám ô-liu. Tai phải có màu trắng, liên kết di truyền tự nhiên với tông vàng-phớt xanh lục của sắc tố chân. Màu chuối bạc và điều không có vạch sậm màu ở giữa lông bờm và rất rất ít ở lông mã. Đấy là những đặc điểm quan trọng về màu sắc.


Biến thể onagadori nhạn


Biến thể onagadori điều


Biến thể onagadori chuối bạc


Biến thể onagadori chuối lửa

Sưu tầm

 
 

Thẻ:

Gà Nòi Việt Nam

Xuất Xứ

Không ai biết gà nòi Việt Nam có nguồn gốc từ đâu. Xuất xứ khởi thủy của nó không thể truy cứu được vì thiếu tài liệu. Hơn nữa, nước Việt phải trải qua một cuộc nội chiến kéo dài 30 năm khiến hàng triệu người phải bỏ mình, nhà cửa tan nát lại càng khiến cho các tài liệu gà nòi khác đều khan hiếm.

Định Nghĩa

Theo pho tự điển “Đại Nam Quốc Âm Tự Vị” của tác giả Hùynh Tịnh Của (Quyển II, bản in năm 1896 – trang 155) thì chữ “Nòi” có những nghĩa sau:

Nòi = dòng, giống.
Gà Nòi = Gà người ta nuôi cá độ, chính là giống gà tốt.
Rặt Nòi = thật giống, thật nòi, không lộn lạo, chính là một máu một thịt, không phải chạ.

Danh từ gà nòi được dùng để gọi chung cho cả gà nòi đòn lẫn gà nòi cựa. (thường đựơc gọi tắt là gà đòn và gà cựa)


Gà Đòn

 

 

Gà đòn

Gà đòn là loại gà cổ trụi, chân cao, cốt lớn dùng để đá chân trơn hoặc bịt cựa. Gà đòn được chia ra hai loại rõ rệt. Đó là loại gà mã lại (còn gọi mã mái) và gà mã chỉ.


 Cựa của một con gà đòn 9 tháng tuổi. 

Đặc Điểm Chung

Gà không cựa
Gà đòn thường được sách vở mô tả là loại gà chân trơn, không cựa, hoặc cựa mọc không dài, cựa vừa lú như hạt bắp. Gà này lớn con được dùng theo thuật đá đòn bịt cựa. Danh từ “gà đòn” phát xuất từ miền Trung đựơc dùng để gọi riêng loại gà đá đòn bằng quản và bàn chân. Ngày nay danh từ gà đòn đã được công chúng dùng một cách rộng rãi để gọi chung các loại gà nòi đấu ở trường gà đòn trong đó có những loại gà miền nam có cựa dài và biết xử dụng cựa.

Ở miền Trung, đá gà là thú tiêu khiển của người lam lũ, khi hết mùa đồng áng mới bắt tay vào việc chơi gà. Bởi lẽ tiền bạc khó kiếm nên dân miền trung thích chơi gà đòn, – một độ dầu ăn hay thua cũng kéo dài suốt mấy giờ đồng hồ, có khi suốt ngày. Vì chuyên về gà đòn nên dân miền Trung tuyển chọn cảng gà khiến gà bị nín cựa, mọc chậm và ngắn. Nếu con nào có cựa mọc dài cũng sẽ bị cưa hoặc mài ngắn. Khi cựa mới lú cũng bị chủ gà bấm cựa khiến cựa bị tầy đầu, không lú ra đựơc.

lối đá của gà đòn khác hẳn gà cựa. Gà đòn dùng quản và bàn chân để quất. Gà cựa thì dùng cựa để đâm. Cựa của gà đòn có gốc to và mọc rất chậm so với gà cựa. Gà đòn chín tháng tuổi thì cựa cũng chỉ bằng hạt bắp.


 Gương mặt bặm trợn 

Đầu và diện mạo
Xương sọ gà nòi lớn hơn gà thường, đỉnh đầu của xuơng thường lớn bản và bằng. Mặt gà rộng bản với xuơng gò má nhô cao. Vì được gần gũi và chăm sóc bởi chủ kê nên gà nòi có những đặc tính tâm lý rất khác biệt với các lọai gà khác, chẳng hạn khi được chủ kê cho ăn hay tắm rửa, khuôn mặt gà nòi biểu lộ nét thỏai mái và tự tin, khi có người lạ đến gần gà nòi sẽ ngóng cao đầu và nghiêng mặt, trố mắt tò mò theo dõi nhìn, khi đối diện một con gà khác đôi mắt sẽ gườm lên thách thức so tài. Khi lâm trận thì mắt gà nòi lộ sát khí.


 Da cổ nhăn dày và xếp lớp 

Cổ lớn, da dày và nhăn
Cổ gà nòi lớn và trông rất mạnh bạo với một chiều dài vừa phải, xương cổ rất cứng cáp và các khớp xương gắn bó đều đặn và rắn chắc. Lớp da ở cổ gà nòi được xếp lớp theo hình sóng dợn. Những người xa lạ với gà nòi thường thắc mắc đặt câu hỏi: “gà nòi trụi lông cách tự nhiên hay bị hớt ?” Câu trả lời không đơn giản vì còn tùy thuộc vào loại gà. Có những lọai gà nòi trụi lông cổ tự nhiên hoặc có rất ít lông nhưng cũng có những lọai có lông phủ đầy mình. Thông thường thì gà nòi trơ trụi cho đến khi được 1 tuổi nếu được nuôi ở những nơi có thời tiết và khí hậu nóng ấm như Việt Nam. Lông ở cổ và đùi có thể sẽ không mọc lại được trong lần thay lông của mùa sau. Các tay chơi gà thường om và vào thuốc tẩm làm cho lớp sừng (da trên mặt) và lớp biểu bì săn chắc lại khiến cho các chân lông bị khô khiến lông khó mọc lại. Gà nòi đã được mang qua Hoa Kỳ nuôi và chúng đã dần dà phát triển bộ lông đầy đủ để thích nghi với khí hậu lạnh. Gà nòi nơi đây thường có bộ lông đầy đủ hoặc chỉ trụi chút đỉnh ở phần cổ khi được 9 tháng tuổi.


 Gà 10 tháng tuổi trụi lông tự nhiên. 

Hình bên cạnh là một con gà xám tơ 10 tháng tuổi. Đầu, cổ, và đùi còn trụi lông tự nhiên vì gà còn tơ.

Chân và vảy
Chân gà nòi thường có hai hàng vảy với đường đất chạy hình chữ chi ở giữa hai hàng vảy.
Gà nòi với ba hay bốn hàng vảy thường rất hiếm. Có sách ghi rằng gà ba hàng vảy tuy đá nhanh đòn nhưng đòn không mạnh.

Trong khoảng hơn ba thập niên qua, các tay chơi gà ở miền Nam thường không thích gà nòi có chân màu vàng, lý do là màu chân vàng là màu của gà thịt, một lọai gà Tàu hay gà Bắc Thảo nuôi để lấy thịt. Ngày nay lọai gà chân vàng tuy chưa được ưa chuộng một cách rộng rãi nhưng cũng đã được dần dà chấp nhận trong giới mộ điệu chơi gà.


 Mắt ếch. 

Mắt ếch
nếu gà nòi có mắt lớn thì không thích hợp cho các trận đá nhưng gà có mắt lồi như mắt ếch thì lại khác. Gà mắt ếch có đặc điểm lanh lợi và linh động khi ra trận. Nếu gà nòi mắt ếch mà có màu chân xanh thì được xem là hợp cách rất qúy. Các tay chơi gà thường truyền tụng câu ca dao:

“Chân xanh mắt ếch đánh chết không chạy”

Những Đặc Tính Khác

  • Đùi: Nở nang và thường dài hơn phần quản
  • Chân: Tương đối cao. Loại chân vuông hoặc tam giác thường đựơc các sư kê ưa chuộng.
  • Mình: Rắn chắc và dài đòn. Phần bụng nhỏ và không phát triển.
  • Da: Dày và đỏ.
  • Thịt: thịt gà nòi là lọai có cơ bắp lớn nở nang do năng vận động và tập luyện. Chính vì thế mà thịt gà nòi trở nên dai, phải “hầm” lâu hơn gà thường mới ăn được !
  • Xương: gà nòi có bộ xương rất lớn và nặng ký do đó cần có thời gian lâu cho gà phát triển. Trung bình hơn 1 năm gà nòi mới đủ thể lực và cứng cáp để có thể ra trường.
  • Đuôi: đuôi gà nòi ngắn, lông ống cứng có hình cánh quạt để chống đỡ khi nhảy, té. Gà có lông “Mã chỉ” thường có thêm lớp lông vũ phủ thêm bên ngòai lớp lông ống.
  • Cựa: Loại cựa đơn là thông thường nhất. Tuy nhiên có lọai gà nòi có từ 2 đến 6 cựa chột như đầu đinh nơi chân được gọi là gà “Nhị Đinh”, “Tam Đinh”,… “Lục Đinh”. Đây là những lọai gà nòi giòng khác biệt. .
  • Bộ Lông: Lông rất thưa thớt ở phần đầu, cổ và đùi. Lông cứng, dòn và dễ gãy. Gà nòi có nhiều sắc lông chính như xám, ô, nhạn, điều và vàng. Các con gà có sắc lông pha trông rất rực rỡ và đẹp mắt như xám son, ô điều (tía), chuối và ó.
  • Trọng lượng: gà nòi có trọng lượng từ 6 tới 11 pounds (khoảng 2.8 kg tới 5 kg)
  • Tiếng gáy: Gà nòi không gáy nhiều như các lọai gà tre, gà Thái hay gà Tàu. Tiếng gáy của gà nòi trầm hùng.
  • Tánh nết: Đặc tính của gà nòi là can đảm, lì lợm và bất khuất. .
  • Địa điểm: Gà nòi đòn nổi tiếng hiện nay được nuôi nhiều ở các tỉnh miền Trung như : Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Đà Nẵng và nhiều vùng cao nguyên. Gà nòi cũng được phát triển rộng rãi các tỉnh, vùng ngòai Bắc như : Lạng Sơn, Bắc Giang (tỉnh Hà Bắc cũ), Hà Nội, Nam Định,vv… Trong miền Nam gà nòi được biết nhiều qua các địa danh như : Bà Rịa, Đồng Nai (Biên Hòa), Sàigòn, Bà Điểm, Long An, Cao Lãnh,v.v,…

(  trích nguồn : http://www.ganoi.com )

 
 

Thẻ: , , ,

 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.