RSS

Một số mẫu chuồng gà đẹp

Mình vào 1 số website của nước ngoài thấy họ chia sẻ 1 số mẫu chuồng gà đẹp, copy cho mọi người tham khảo nhé!

Rambling Red

Alexandria House

Victoria House

Chicken Mansion

The Bump Out Option

Have Coop, Will Travel

Suburban Barnyard

Ideal for Cooking Schools

The Classic Mini Coop

Triple Play

Brown Gables

The Setting is Key

Wheel Wonder

Poultry Power Shed

Briar House Styles

Chicken Tractor

Green Wagon Coop

Amish Red

St

 

 

 

Gà vảy cá Sebright – hoa độc trong vườn!

Tom Franklin – http://www.angelfire.com/ab/sebrightbantam/pageone.html

Gà vảy cá (Sebright) – Giống gà tre độc đáo
Một đàn gà vảy cá luôn trông rất ấn tượng ở bất kỳ miền thôn dã nào. Tại rất nhiều nơi, số lượng gà vảy cá xuất hiện nhiều hơn bất kỳ giống gà nào khác. Vậy điều gì làm nên sự độc đáo của gà vảy cá?

Độ tương phản của bộ lông
Có hai biến thể màu được công nhận ở Bắc Mỹ, màu vàng (golden) và màu trắng (silver). Màu vàng thường phải đậm và đều, trong khi màu trắng phải thực sự trắng. Gà vảy cá nổi tiếng bởi chất lượng của vảy cá tức viền lông. Mỗi sợi lông đều có viền đen, khiến cho màu nền trông sáng và nổi bật hơn.

Mã lại (hen feathering)
Gà vảy cá trống có lông mã lại – điều đó có nghĩa lông mã và lông đuôi tương tự như gà mái và không hề có lông phụng vốn là đặc điểm nhận dạng ở gà trống nói chung. Ngoài gà vảy cá, giống gà Campine cũng có lông mã lại.

Mồng trà màu dâu tằm
Tất cả gà mái đều có mồng trà màu “dâu tằm” hay tím sẫm; dẫu khó được như vậy, hầu hết gà trống xịn đều có mồng phớt màu dâu tằm và viền mắt sẫm (dark eye cere). Vì vậy hãy quên đi kiểu mồng đỏ “thường thường”! Đặc điểm này bổ sung vào sự độc đáo của giống gà tuyệt vời này.

Kích thước gà vảy cá rất nhỏ
Gà vảy cá là giống gà tre chính hiệu (true bantam) bởi không hề có phiên bản to hơn. (Lưu ý, một số giống gà to con như gà Mỹ, gà Pheonix… đều có phiên bản giống hệt nhưng nhỏ con hơn).

Là giống gà tuyệt vời để nuôi kiểng, một bầy gà vảy cá cần rất ít thức ăn so các giống gà khác. Điều này đặc biệt đúng trong trường hợp gà được thả rông trong sân, vườn hoặc ngoài đồng. Không gì bận rộn hơn gà vảy cá bới tìm thức ăn trong sân vườn!

Kích thước nhỏ cũng giúp việc ôm gà rất dễ dàng. Trẻ em có thể chơi với chúng và một khi gà càng được chơi nhiều thì chúng càng dạn người.

Còn bây giờ, bạn đã hiểu vì sao mà gà vảy cá (Sebright) độc đáo chưa?


Hình vẽ một cặp gà vảy cá trắng trong Bản tiêu chuẩn (Standard of Perfection – 1905) của Hiệp hội Gia cầm Mỹ (American Poultry Assocciation)

Lịch sử

Dưới đây là một trong hai thuyết trái ngược về nguồn gốc của gà vảy cá.

Điểm thú vị là John Sebright cũng là người giới thiệu giống bồ câu Pygmy Pouter, một phiên bản tí hon của giống bồ câu Pouter Anh.

Tham khảoGolden and Silver Sebright Bantams, Bill Holland, pp. 2-3, American Bantam Association, 1980.

Vào khoảng 1800, Sir John Sebright quá cố bắt đầu lai tạo giống gà vảy cá (Sebright bantam). Việc lai tạo được thực hiện giữa một số giống gà tre phổ biến với giống gà Ba Lan (Polish fowl). Chúng được lai tạo mãi cho đến khi đạt được kích thước và đặc điểm mong muốn. Rồi tình cờ Sir John phát hiện thấy một con gà tre mã lại khi ông đi du lịch trong nước. Con gà trống mã lại này được lai với giống gà tre mới của ông do đó mà con cháu đời sau được thừa hưởng gien mã lại.

Theo cuốn “Poultry Chronicle”, Sir John kiếm được một con gà tre mái màu khét sữa ở Norwich: nó rất nhỏ với chân màu xám. Trong chuyến đó ông cũng mua được một con gà trống màu điều không có lông phụng với lông mã như gà mái ở Watford; và một con gà mái nhỏ tương tự như một con Hamburg vàng. Sau đó ông kiếm được một con gà trống nhạn từ Vườn Bách Thảo mà nhờ đó ông tạo ra biến thể trắng. Đây là mô tả về nguồn gốc của giống gà trước khi viền vảy cá xuất hiện. Chúng được gọi là gà tre công (pheasant bantam).

Sir John cũng thành lập một câu lạc bộ để thúc đẩy việc cải thiện giống gà của mình. Nó được đề cập trong cuốn “Poultry Chronicle” xuất bản năm 1855: “Sebright Bantam Club được thành lập từ cách nay 40 năm bởi Sir John S. Sebright quá cố và nhiều nhà chơi gà kiểng khác, những người đã nỗ lực hết mình để ghép bộ lông xinh đẹp của giống gà Ba Lan lên giống gà tre càng nhỏ càng tốt. Họ (Sir John, ông Stevens quá cố, ông Hollingworth quá cố, ông Garle và những người khác) bắt đầu công trình của mình bằng việc tuyển chọn những con gà Ba Lan tốt nhất và lai xa một cách cẩn trọng với gà tre, để dần đạt được mục tiêu của mình. Họ phải tuyển chọn những đặc điểm tốt nhất, loại bỏ lông bờm và lông đuôi dài, và giảm kích thước, duy trì hết sức có thể hình dáng thực sự khác biệt của giống gà. Điều này gần như đã thành công, nhưng thỉnh thoảng vẫn phải lai xa với gà tre đen, rồi liên tục lai cận huyết để dòng gà ổn định. Câu lạc bộ tổ chức họp mặt thường niên vào ngày thứ ba của tuần thứ 2 trong tháng 2 ở Brick Lane, nhưng vài năm sau chuyển vể tiệm cà-fê Gray’s Inn ở Holborn, hồi đó luôn hạn chế kết nạp người lạ, sau khi trọng tài trao giải. Câu lạc bộ khá khép kín, mọi thành viên mới đều phải được một thành viên cũ giới thiệu và bầu chọn. Lệ phí thành viên là 2 gi-nê mỗi năm đối với Thành viên Vàng, và cũng vậy với Thành viên Bạc để lấy inh phí làm giải thưởng. Tất cả gà phải là tài sản thực sự của người dự thi, được lai tạo bởi chính người đó và dưới một năm tuổi. Gà trống dưới 620 gram, gà mái dưới 510 gram. Gà trống không được có lông bờm dài, không có lông mã (mã lại), không có lông phụng; chúng phải có mồng trà, lưng ngắn, đầu và đuôi cao gần như nhau; màu nền, gồm màu vàng (gold) và trắng (silver) phải sạch và mỗi lông đều phải có viền vảy cá màu đen tuyền (không được có bông, đốm). Lông đuôi cũng phải có viền (tuy rất hiếm) và các viền ở cánh phải đen và rõ. Gà mái cũng phải có đặc điểm tương tự”.

Đây là thuyết thứ hai về nguồn gốc của gà vảy cá cùng với thông tin về sự phát triển của giống gà.

Tham khảo: Frank L. Gary, Sebright History – Golden and Silver Sebright Bantams, Bill Holland, pp. 24-25, American Bantam Association, 1980.

Moubray trong cuốn Domestic & Ornamental Poultry bình luận về nguồn gốc của gà vảy cá như thế này:

“Mặc dù người ta thường cho rằng John S. Sebright, cựu thành viên hội đồng hạt Herfordshire, Anh là ông tổ của gà vảy cá, và rằng nhờ quá trình lai tạo lâu dài và cẩn trọng hàng loạt giống gà tre phổ biến cùng với một số kỹ năng bí mật mà không ai có thể lý giải, đã tạo ra một giống gà hoàn toàn mới và khác biệt. Sir John không bao giờ công bố ông tạo ra gà vảy cá khi nào cũng như ông có phải là ông tổ hay không. Các văn bản chỉ lưu ý rằng vào thời mà giống gà xuất hiện, không có tuyên bố nào cho thấy Sir John là ông tổ của giống gà, mà ngược lại trong một văn bản xuất hiện ngay sau khi gà vảy cá ra đời, tác giả nói rằng giống gà đã hình thành, và Sir John là “một trong số những tay chơi chủ chốt” của giống gà này, dẫn đến kết luận rằng chúng bắt nguồn từ phương đông và có lẽ được Sir John nhập về và phổ biến một cách rất thành công”

Vào thời đó, gà vảy cá cực nhỏ, trọng lượng được giới hạn khoảng từ 850 đến 900 gram một cặp.

Tiêu chuẩn gà Mỹ (American Standard of Excellence) lần đầu xuất bản vào năm 1874 mô tả chúng như là gà “Laced Sebright” vàng và trắng. Biến thể vàng phải có màu vàng kim đậm và biến thể trắng màu trắng tinh. Dái tai được gọi là “tai điếc” và màu trắng. Da đầu được mô tả có màu đỏ, đương nhiên dính dáng đến mồng trong mô tả kế đó về lông đầu. Lông cánh gà trống được mô tả “chóp rất xệ, gần như chạm đất”. Gà trống trên 740 gram, gà mái trên 620 gram sẽ bị loại, không thấy quy định trọng lượng trống và mái non.

1875 – Tên được chuyển thành gà vảy cá (Sebright) vàng và trắng. Không thấy quy định màu của mồng. Gà trống trên 790 gram, gà mái trên 680 gram sẽ bị loại. Không có quy định về trọng lượng nào khác. Coi như 2 giống riêng biệt.

1879 – Lần đầu tiên, trọng lượng chuẩn được xác định gà trống 740 gram, gà mái 680 gram, gà mái tơ 620 gram.

1883 – Lần đầu tiên, tích được mô tả “đỏ tươi”. Cánh gà trống được mô tả “cánh xệ, nhưng không chạm đất”.

1888 – Trọng lượng điều chỉnh thành gà trống 740 gram, gà mái 620 gram, gà trống tơ 620 gram, gà mái tơ 570 gram.

1889 – Một giống phân làm hai biến thể, vàng và trắng. Lần đầu tiên, mô tả hình dáng và màu sắc được định nghĩa một cách riêng biệt.

1893 – Dái tai chuyển từ màu trắng thành “màu sắc không quan trọng đối với cả hai biến thể”.

1905 – Lần đầu tiên, Franklane L. Sewell (1905) vẽ hình minh họa gà vảy cá trống và mái trắng.

1910 – Bộ lông màu vàng kim (gold) chuyển thành vàng (yellow), bỏ từ “đậm”. Hình minh họa mới được thực hiện bởi Arthur O. Schilling (1910). Màu sắc chung rất nhạt chủ yếu do số lượng lông giảm và viền lông rất nhuyễn. Lần đầu tiên, đuôi gà trống và gà mái được mô tả phải đạt 70 độ so với đường ngang. Cá thể lố 100 gram so với trọng lượng chuẩn sẽ bị loại. Màu mắt của biến thể vàng chuyển từ sáng sang nâu, mặt và mồng của biến thể trắng chuyển từ đỏ tươi sang tím hanh đỏ.

1915 – Dái tai của cả hai biến thể chuyển thành “ưu tiên tím hanh đỏ”. Biến thể vàng chuyển từ “vàng” (golden yellow) sang “vàng thau” (golden bay). Hình vẽ gà vảy cá trắng mới được minh họa bởi Arthur O. Schilling (1914). Trong hình mới này, viền vảy dường như hơi dày hơn so với minh họa trước đó.

1920 – Dáng và lưng chuyển từ “ngắn” sang “rất ngắn”.

1952 – Hình minh họa mới bởi Arthur O. Schilling (1952).

1965 – Tiêu chuẩn của Hội gà tre Mỹ (American Bantam Association) ra đời. Đây là lần đầu tiên, bản mô tả hoàn chỉnh về hai biến thể gà vảy cá xuất hiện, cả về hình dáng lẫn màu sắc. Lần đầu, mọi thuật ngữ đều được định nghĩa một cách rõ ràng. Nhiều thuật ngữ trước đây chưa hề xuất hiện trong bất kỳ bản tiêu chuẩn nào bao gồm tiêu chuẩn của Hiệp hội Gia cầm Mỹ, Anh, Hà Lan, Đức và Pháp. Hơn nữa, những thuật ngữ hoàn chỉnh được áp dụng cho cả những giống gà tre khác, không thuật ngữ ngoại lệ nào dành riêng cho gà vảy cá.

Đánh giá

Theo trọng tài Rico Sebastianelli (28-3-1999)
Rico Sebastianelli, một trọng tài đáng kính, đã phát biểu về việc chấm điểm gà vảy cá như sau:

Với tôi điểm quan trọng nhất là “dáng chuẩn” (type). Tôi luôn quan tâm đến dáng. Gà vảy cá có lẽ hơn các giống gà tre khác ở điểm mà tôi gọi là “dáng chuẩn”. Tôi gọi nó là “dáng chữ S”, khi nhìn vào ngực, cổ và đầu. Bạn có thể có gà tre lông “vảy cá” nhưng một khi không có dáng chữ S thì chúng chưa thể là gà vảy cá (Sebright) được.

Điều nữa tôi để ý ở gà vảy cá là vùng đầu. Tôi ám chỉ đến bộ mặt màu dâu tằm ở gà mái, với mắt và mồng màu tối sẫm dễ thương. Ở gà trống, màu mắt cũng quan trọng. Mắt màu sẫm với mồng sẫm hơn. Mồng đỏ tươi là không đạt.

Hình lông cũng quan trọng. Bạn muốn kiểu lông ngắn và rộng, chóp lông tròn và không được nhọn.

Tôi thà chọn con gà dáng đẹp mà viền vảy cá xấu còn hơn con gà dáng xấu mà viền vảy cá đẹp. Dĩ nhiên, tôi cũng muốn thấy viền vảy cá sạch, đẹp hơn là lem nhem nhưng nhớ đừng đổ quá nhiều công sức vào đó. Tôi cũng muốn nói với các nhà lai tạo mới rằng, luôn xây nhà trước (chọn dáng) rồi mới sơn phết nó sau (nghĩa là chọn màu).

Theo trọng tài Paul F. Kroll (3-5-1999)
Tôi được Hiệp hội Gia cầm Mỹ (APA) cấp bằng đánh giá gà lớn và gà tre từ năm 1976. Tôi lai tạo gà tham dự triển lãm từ đầu những năm 1960 với một số kinh nghiệm từ đầu những năm 1950. Tôi chưa hề lai tạo và nuôi dưỡng gà vảy cá nhưng có kinh nghiệm nuôi một số giống gà tre “chính hiệu” như Rosecomb, d’Uccles và tình yêu đầu đời, gà tre nhật. Tôi luôn nuôi gà tre nhật; cùng với nhiều nhà lai tạo khác, tôi học cách đánh giá thông qua việc nuôi dưỡng và lai tạo chúng (khi thú nhận mình chưa bao giờ nuôi gà vảy cá, tôi không có ý chối bỏ trách nhiệm mà chỉ muốn nói rằng quan điểm của tôi là quan điểm của một trọng tài và người quan sát, chứ không phải của nhà lai tạo).

Tôi từng chấm điểm gà vảy cá ở một số hội chợ và cả triển lãm quốc gia nữa. Tôi luôn ấn tượng trước hình dáng nổi bật, nhí nhảnh và bộ lông khác biệt của gà vảy cá. Tôi có thể khẳng định rằng nhiều trọng tài thường sai sót khi chấm gà nhỏ bởi vì đấy là những con dáng chuẩn và sát với hình vẽ nhất. Gà lớn hơn (có lẽ kích thước/trọng lượng chính xác – tôi không biết nếu chưa đem cân) luôn trông có vẻ “lưng quá dài” khiến thân hình như quả thủy lôi, không như độ cong trên hình vẽ.

Tôi công nhận đấy là quan điểm cá nhân. Đấy là những điều tôi được học từ người thầy chính của mình, trọng tài Charles M. Burmaster. Charlie là người yêu thích nhiều loài sinh vật cảnh và cùng với Alex Duffy điều hành triển lãm Madison Square Garden danh tiếng vào năm ngoái.

————————————————————————————–

Ghi chú (vnrd)
*Thuyết cho rằng nguồn gốc gà vảy cá ở phương đông là có căn cứ bởi vì từ bao đời nay, người ta đã biết về gà nòi mã lại.

* Một số biến thể màu

Màu vàng (golden)

Màu trắng (silver)

Màu khét sữa (buff)

 
 

Thẻ: , , , ,

Các loài trĩ ở Việt Nam

Trĩ (pheasant) bao gồm các loài thuộc phân họ Phasianinae, họ Phasianidae, bộ Galliformes. Các loài như công (peacock), gà rừng (junglefowl), cút (quail) và gà gô (partridge) cũng thuộc họ trĩ Phasianidae, nhưng được xếp vào các phân họ khác. Trên thế giới, có tổng cộng 35 loài trĩ phân bổ trong 11 chi. Ở Việt Nam, đến nay phát hiện được 10 loài trĩ phân bố trong 5 chi, trong đó có đến 4 loài đặc hữu (gà lôi lam mào trắng, gà lôi lam mào đen, gà lôi lam đuôi trắng, gà tiền mặt đỏ) và 2 phân loài đặc hữu (gà sao, gà lôi vằn). Một số loài ở Việt Nam tuy được gọi là “gà” chẳng hạn như “gà lôi”, “gà tía”, “gà tiền” nhưng về phân loại, chúng thuộc về nhóm trĩ (pheasant). Tất cả các loài trĩ ở Việt Nam đều được bảo vệ và có tên trong sách đỏ.

Đặc điểm giới tính của trĩ phân hóa rất mạnh, con trống có màu lông sặc sỡ, đuôi dài, đa số có mặt và tích đỏ tươi. Trĩ trống to hơn nhiều so với trĩ mái và không tham gia vào việc nuôi con. Chúng ăn các loại hạt và côn trùng. Rất nhiều loài trĩ được người nuôi gia cầm ở khắp nơi trên thế giới ưa chuộng nhờ màu lông sặc sỡ của chúng. Ở Việt Nam, có một số người đã thành công trong việc nuôi chim trĩ đỏ để làm cảnh cũng như lấy thịt. Kỹ thuật nuôi trĩ cũng tương tự như nuôi gà nhưng chuồng trại phải rộng và bao kín để chim khỏi bay mất.

1. Trĩ đỏ hay trĩ đỏ khoang cổ (Phasianus colchicus) phân bố rất rộng trong hầu hết các quốc gia ở châu Á, chúng còn thâm nhập vào các nơi khác như Bắc Mỹ, châu Âu, Chi Lê, Hawaii, New Zealand và Tasmania. Tên được đặt theo thành phố cổ Colchis ở miền tây Georgia (tức nước cộng hòa Gruzia trong Liên Bang Xô-Viết cũ). Phân hóa hình thái rất mạnh với hơn 30 phân loài chia thành 5 (hay 6) nhóm dựa vào một số đặc điểm như sự hiện diện của vòng cổ màu trắng, màu lông ở gốc đuôi, và lông bao cánh. Nhóm trĩ vòng cổ trung hoa (chinese ring-necked pheasant) bao gồm những phân loài ở Trung Quốc, Đài Loan và miền bắc Việt Nam.

Phân loài ở Việt Nam là trĩ đỏ khoang cổ bắc bộ Phasianus colchicus takatsukasae (tonkinese ring-necked pheasant) phân bố ở các tỉnh phía bắc như Bắc Cạn, Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai, Quảng Ninh và Yên Bái. Theo một số tài liệu, trĩ đỏ còn được phát hiện ở những vùng xa hơn về phía nam như khu bảo tồn thiên nhiên Phong Điền (Thừa Thiên – Huế), rừng quốc gia Nam Cát Tiên, huyện Đức Trọng và núi Bidoup (Lâm Đồng) và khu bảo tồn U Minh Thượng (Kiên Giang) nhưng không rõ chúng thuộc phân loài nào.

Trĩ đỏ có đuôi dài và nhỏ, bộ lông có nhiều màu sặc sỡ; kích thước 60 – 80 cm. Trĩ trống trưởng thành có đầu, gáy màu nâu. Cằm, họng và cổ đen ánh xanh, mỗi lông có nhiều vằn ngang nhỏ, màu đen. Cánh nâu. Đuôi vàng phớt xanh với các vằn ngang rộng, màu đen ở giữa và màu tím ở hai đầu. Bụng nâu thẫm ánh đỏ. Sườn vàng cam óng ánh. Chim mái nhỏ hơn chim trống. Đầu và cổ nâu thẫm. Vai, lưng hung đỏ phớt nâu tím. Cằm và họng vàng xám có vạch nâu. Ngực, bụng và sườn xám hung.

Chim trĩ đỏ thường sống ở vùng đồi núi thấp, độ cao 800 m so với mực nước biển, nơi có nhiều cỏ, cây bụi và rừng thông. Không sống trong rừng rậm. Kiếm ăn lúc sáng sớm hay xế chiều. Vùng kiếm ăn thay đổi. Tối ngủ trong các lùm cây thưa. Trĩ đỏ bắt đầu sinh sản từ tháng 3. Chim trống gáy to, khàn khàn “ korrk-kok”. Tổ làm trên mặt đất. Mỗi lứa đẻ từ 10 – 16 trứng, ấp trong 26 ngày. Trĩ con sau 10 tháng có thể trưởng thành sinh dục. Thức ăn bao gồm hạt cỏ, cây lương thực, giun đất, mối, kiến và nhiều loại côn trùng khác.

Lưu ý: Trĩ đỏ là loài được nuôi làm cảnh rất phổ biến trên thế giới. Đa số đều bị lai tạp hoặc thuộc phân loài khác. Các cá thể này có thể xuất hiện tại Việt Nam qua đường nhập khẩu sinh vật cảnh. Không nên lai chúng với trĩ hoang dã nội địa để bảo tồn nguồn gien thuần chủng.

2. Trĩ sao (Rheinardia ocellata) phân bố từ Hà Tĩnh đến Bình Định trong các rừng kín thường xanh trên núi đất. Loài định cư, được phát hiện ở nhiều nơi trong vùng phân bố như vườn quốc gia Bạch Mã, rừng vùng đèo 41 ở A Lưới, khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ. Có hai phân loài, phân loài ở Việt Nam và trung Lào là Rheinartia ocellata ocellata, phân loài ở Mã Lai là Rheinartia ocellata nigrescens. Phân loài ở Mã Lai có mào dài và đốm sao rõ hơn.

Chim trống trưởng thành có bộ lông màu vàng da bò điểm các đốm trắng, nâu sẫm và đen, lông mày rộng màu trắng, mào dài màu trắng, đầu nhỏ, họng trắng nhạt, da mặt hồng, mống mắt nâu với lớp da màu xanh lam xung quanh mắt, mỏ đỏ, chân nâu. Đuôi thuôn và rộng bản (12 cm) với 12 lông vũ dài gần 2 mét (trong một thời gian dài, chúng được coi là loại lông vũ dài nhất trong số các loài chim hoang dã). Chim trống trổ mã vào năm thứ 3 nhưng đuôi chỉ đạt kích thước tối đa vao năm thứ 6. Trĩ sao mái có bề ngoài tương tự nhưng mào và đuôi ngắn hơn. Cả chim trống lẫn chim mái đều không có cựa.

Chim trống cất tiếng gáy hùa uối gọi mái từ tháng 3 đến tháng 6 hàng năm. Tiếng gáy rất to, vang xa và cất lên từng chập. Trĩ sao sinh sản khoảng từ tháng 4 – 8. Sở thú Sài Gòn lai tạo thành công trĩ sao lần đầu tiên vào năm 1996, được biết không nơi nào khác trên thế giới sở hữu phân loài trĩ xinh đẹp và quý hiếm này. Thức ăn của chúng chủ yếu là lá cây, hoa quả, sâu bọ, dòi, nhộng và các động vật nhỏ.


3. Gà lôi hông tía (Lophura diardi) phân bố ở Việt Nam, Lào và miền bắc Thái Lan, trong các rừng nguyên sinh, thứ sinh (nhất là rừng cây họ Dầu), rừng tre và nương rẫy rậm rạp có độ cao trên 600 m so với mực nước biển. Loài được đặt theo tên của nhà tự nhiên học người Pháp Pierre-Médard Diard (diard’s fireback, diard’s crested fireback, siamese crested fireback). Đây là loài chim xinh đẹp và trổ mã chỉ sau một năm. Mào dài và được trang điểm bởi túm lông màu đen-tím. Mặt và tích đỏ tươi, họng màu đen. Ngực, cổ và lườn trên màu xám với hoa văn lỗ rỗ. Hông màu vàng tươi (nên mới có tên trĩ “hỏa hậu” fireback), gốc đuôi màu ánh kim với tua hạt dẻ. Đuôi dài và cong với các tông màu đen, xanh và lục. Cánh màu xám với những vạch đen trắng; bụng và lườn màu đen. Mỏ màu vàng, cẳng chân và ngón màu đỏ. Giống như những loài gà lôi khác, cựa mọc khá dài nên cần phải tỉa để không làm gà mái bị thương khi giao phối.

Gà mái không nổi bật bằng gà trống nhưng cũng có hoa văn độc đáo khiến chúng trông hấp dẫn nhất so với gà mái của các loài trĩ khác. Gà mái không có mào, mặt và tích nhỏ hơn so với gà trống nhưng cũng đỏ tươi. Đầu, họng và cổ có màu nâu-xám; phần trước của ngực và lưng có màu hạt dẻ tươi. Phần sau của lưng, cánh và đuôi có màu hạt dẻ với màu đen và trắng lỗ rỗ. Mỏ màu xám sẫm, chân và ngón màu đỏ.

Gà trưởng thành vào năm thứ ba, có khi vào năm thứ hai. Gà trống có màu lông trưởng thành vào năm thứ nhất nhưng đuôi vẫn ngắn hơn so với gà trống trưởng thành. Kích thước từ 61-81 cm. Mùa sinh sản diễn ra từ tháng 5 đến tháng 7 hàng năm. Gà mái đẻ từ 5 đến 8 trứng và ấp từ 24-25 ngày.

4. Gà lôi lam mào trắng (Lophura edwardsi) là loài đặc hữu, phân bố ở khu vực bắc trung bộ gồm Thừa Thiên-Huế, Quảng Bình, Quảng Trị và Hà Tĩnh, trong vùng rừng rậm quanh núi đá vôi và rừng thứ sinh ở độ cao 50 – 200 m so với mực nước biển. Gà lôi mào trắng được cho là bị tuyệt chủng trong hàng chục năm trời nhưng mới được tái phát hiện gần đây. Loài được đặt theo tên của nhà động vật học người Pháp Alphonse Milne-Edwards (1835-1900), giám đốc Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Paris.

Loài gà nhỏ con, gà trống có màu xanh ánh kim với vô số tông màu khi được chiếu sáng. Lông ở lưng, cánh, bao cánh và đuôi đen với mép lông màu lam ánh kim. Đôi lông đuôi ở giữa nhọn, ngắn dần ở các đôi tiếp theo. Mào trên đỉnh đầu màu trắng và ngắn hơn so với các loài gà lôi khác, mặt và tích đỏ tươi, chân đỏ, đuôi ngắn. Mỏ lục vàng nhạt hay màu sừng. Gà mái nhỏ hơn nhiều với tông nâu chủ đạo và mào không hiện rõ. Mặt và mồng gà mái nhỏ cũng như nhạt màu hơn, chân đỏ. Gà trống trổ mã ở một năm tuổi. Mặc dù rất hiếm ngoài tự nhiên nhưng loài này xuất hiện nhiều trong môi trường nuôi dưỡng bởi trước đây người Pháp đã đem nhiều cá thể về châu Âu.

Trong môi trường nuôi dưỡng, gà sinh sản từ cuối tháng 3 đến tháng 6 hàng năm. Chúng dường như rất thích mưa và có lẽ là loài trĩ duy nhất như vậy. Mỗi lứa có từ 4 – 7 trứng màu kem hồng thẫm với các chấm trắng nhỏ. Thời gian ấp 24-25 ngày. Gà cha mẹ chăm sóc con rất tốt.

5. Gà lôi lam đuôi trắng (Lophura hatinhensis) là loài trĩ đặc hữu, phân bố hẹp xung quanh khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ ở Hà Tĩnh và Quảng Bình. Địa bàn ưa thích của chúng là các sườn đồi thấp và thung lũng ven suối có độ cao khoảng 50 – 200 m trong các khu rừng ẩm thường xanh nguyên sinh và thứ sinh, những nơi có tán rừng, nhiều cọ, mây song và tre nứa nhỏ. Trong địa bàn nói trên còn gặp cả gà lôi lam mào đen, gà tiền, gà so và trĩ sao. Về mặt di truyền, gà lôi lam đuôi trắng rất gần với gà lôi lam mào trắng nên có ý kiến coi nó như một phân loài của loài trên.

Gà lôi trống trưởng thành có mào lông màu trắng ở đỉnh đầu với mút lông đen. Sải cánh dài 245 mm. Đầu, cổ ngực và trên đuôi đen có ánh tím thẫm. Lông cánh đen, bao cánh đen có ánh xanh. Các lông bao cánh, lông ở lưng và bao đuôi có vệt ngang đen nhung ở gần mút lông. Đuôi đen và có 4 lông, ở giữa màu trắng tuyền (đặc điểm phân biệt chủ yếu với gà lôi lam mào trắng). Chim mái trưởng thành có kích thước nhỏ hơn chim trống và nhìn chung bộ lông có màu hung nâu sẫm. Chân đỏ. Da mặt đỏ tươi. Mỏ đen sừng.

Ghép đôi bắt đầu từ tháng 10. Mỗi lứa đẻ 5 – 7 trứng và cách nhau 2 – 3 ngày. Thời gian ấp 21 – 22 ngày. Vườn thú Hà Nội đã chăn nuôi thành công loài này. Kết quả theo dõi cho thấy gà lôi lam đuôi trắng hoạt động kiếm ăn mạnh vào hai thời điểm sáng sớm và chiều tà, giảm dần vào lúc trưa. Trưa nghỉ trong bụi râm mát. Tối ngủ trên các cành cây cao. Ăn nhiều loại thức ăn như thóc, ngô, lạc, chuối tiêu, nho, rau xà lách, giá đỗ, giun, châu chấu, ốc vặn…

6. Gà lôi lam mào đen (Lophura × imperialis) phân bố trong các cánh rừng của Việt Nam và Lào. Được Delacour & Jabouille mô tả vào năm 1924 từ một đôi chim mẫu bắt được tại Việt Nam. Tuy nhiên tần suất bắt gặp là rất thấp. Nó được tái phát hiện vào năm 1990, khi một con trống choai bị một người nông dân thu hoạch mây bẫy được. Một con trống choai khác bị bắt vào tháng 2 năm 2000. Gần đây, qua xét nghiệm ADN, người ta đã xác định được đấy là con lai tự nhiên của gà lôi vằn (Lophura nycthemera annamensis) với gà lôi lam mào trắng (Lophura edwardsi) hoặc gà lôi lam đuôi trắng (Lophura hatinhensis) chứ không phải là một loài riêng biệt. Vì vậy, các tổ chức BirdLife và IUCN đã đưa nó đưa ra khỏi danh sách loài bị đe dọa.

Gà lôi lam mào đen trông tương tự như một loài chim bí ẩn khác của Việt Nam là gà lôi lam đuôi trắng, nhưng to hơn, dài khoảng 75 cm, đuôi cũng dài hơn, mào và các lông đuôi màu lam sẫm toàn bộ trong khi gà lôi lam đuôi trắng có mào và các lông đuôi trung tâm màu trắng. Mặt và tích màu đỏ tươi, mào lam, chân đỏ thẫm và bộ lông bóng. Con mái mầu nâu với mào lông ngắn dựng đứng, đuôi và lông cánh sơ cấp màu đen.

7. Gà lôi trắng (Lophura nycthemera) là loài phân bố rộng từ tây nam Trung Quốc, đông Miến Điện, bắc Lào, tây nam Campuchia, đông bắc Thái Lan, miền bắc Việt Nam cho đến tận đảo Hải Nam. Đây là loài được đề cập đến nhiều nhất trong hội họa và thơ ca Trung Quốc thời cổ đại, nghe nói nó là cảm hứng cho sự sáng tạo con chim “phượng hoàng” thần thoại.

Phân loài chuẩn Lophura nycthemera nycthemera (không hiện diện ở Việt Nam, chỉ dùng để so sánh): gà trống có mào đen dài, cổ đen, bụng đen ánh xanh thép. Toàn thân màu trắng với những vạch đen. Đuôi dài, những lông ở giữa trắng tuyền. Mỏ xám, chân đỏ, mặt và tích đỏ tươi, nhất là vào mùa sinh sản. Gà trổ mã với bộ lông trắng vào năm thứ 2. Năm đầu gà trống thường có nhiều vệt đen trên ngực, trong khi hầu hết phần còn lại có màu nâu với những vạch xám nhạt. Gà mái có màu xám ô-liu. Gà mái nhỏ và mặt nhạt màu hơn nhiều so với gà trống. Gà thường trưởng thành khi đạt 2 năm tuổi, đôi khi sớm hơn. Gà sinh sản rất sớm vào cuối tháng 2 hàng năm. Mỗi lứa đẻ từ 6 đến 15 trứng và ấp trong vòng 26-27 ngày.

Phân hóa hình thái mạnh với tổng cộng 15 phân loài. Theo www.vncreatures.net, ở Việt Nam ghi nhận có 4 phân loài bao gồm: gà lôi beaulieu, gà lôi berlioz, gà lôi bel và gà lôi vằn. Nguyên tắc phân biệt các phân loài: càng vào phía nam thì lông đuôi càng ngắn dần, màu trắng càng giảm và màu đen càng tăng. So sánh chiều dài đuôi của các phân loài theo thứ tự phân bố như sau:

* Phân loài chuẩn Lophura nycthemera nycthemera: gà trống 550 – 700 mm, gà mái 240 – 320 mm.
* Gà lôi beaulieu (Lophura nycthemera beaulieui): gà trống 458 – 365 mm.
* Gà lôi berlioz (Lophura nycthemera berliozi): gà trống 380 mm.
* Gà lôi bel (Lophura nycthemera beli): gà trống 350 – 450 mm, gà mái 200 – 220 mm.
* Gà lôi vằn (Lophura nycthemera annamensis): gà trống 310 – 355 mm, gà mái 215 – 255 mm.

7a. Gà lôi beaulieu (Lophura nycthemera beaulieui) phân bố ở bắc bộ, từ tây bắc đến Hà Tĩnh. Đặc điểm tương tự như phân loài chuẩn Lophura nycthemera nycthemera, nhưng đuôi ngắn hơn một chút; những vạch đen ở phần trên cơ thể nhiều, rộng và đậm hơn những vạch đen ở cánh và cạnh đuôi.

7b. Gà lôi berlioz (Lophura nycthemera berliozi) phân bố ở bắc-trung bộ, gồm Quảng Trị, Quảng Bình và Thừa Thiên-Huế trong vùng rừng núi có độ cao khoảng 600 – 1500 m. Đặc điểm tương tự như gà lôi beaulieu ngoại trừ đuôi ngắn hơn.

7c. Gà lôi bel (Lophura nycthemera beli) phân bố ở trung-trung bộ, từ Quảng Trị đến Quảng Ngãi, trong vùng rừng thường xanh nguyên sinh và thứ sinh có độ cao trên 500 m. Gà lôi bel tương tự gà lôi berlioz, nhưng đuôi trắng hơn. Chúng kiếm ăn dưới mặt đất và ban đên ngủ trên cây.

7d. Gà lôi vằn (Lophura nycthemera annamensis) là phân loài đặc hữu, phân bố ở các rừng nam-trung bộ, cao nguyên Lâm Viên phía bắc Plâycu và đông bắc-nam bộ. Gà trống có mào dài, họng và toàn thể mặt bụng màu đen. Đặc điểm dễ thấy là một dải rộng màu trắng chạy dọc theo hai bên cổ. Lông dài ở ngực và sườn màu trắng pha lẫn đen. Mặt lưng có những vân đen mảnh xen kẽ với vân trắng, mỗi một lông có khoảng 6 tới 7 vân trắng hẹp. Cánh màu đen với một vài vân trắng; đuôi màu đen có nhiều vân trắng hẹp. Mắt màu nâu cam hay vàng. Mỏ đen hoặc màu xám sừng. Da quanh mắt màu đỏ tươi, chân đỏ tía. Gà mái có bộ lông màu nâu sẫm. Đuôi màu nâu hạt dẻ sáng, họng màu xám nhạt. Mào dài và có màu nâu sẫm. Lông bao cánh, vai và toàn bộ mặt lưng có những vệt hình mũi mác màu xám nhạt, những vệt này ở phía trên lưng có mép màu tối đục. Mắt nâu, mỏ ngà, chân đỏ tía.

8. Gà tiền mặt đỏ (Polyplectron germaini) là loài đặc hữu, phân bố ở phía nam nước ta từ Quy Nhơn vào đến Đồng Nai, trong nhiều địa hình rừng núi khác nhau kể cả rừng thông và tre nứa, nơi có độ cao khoảng 1200 m so với mực nước biển.

Kích thước trung bình khoảng 60 cm. Gà trống có những đốm tròn lớn màu xanh thép trên cánh vai và đuôi, lưng và gốc đuôi có màu nâu sẫm và không chấm tròn. Mào rất ngắn màu vàng cam, mặt màu đỏ. Gà mái nhỏ hơn, da mặt cũng đỏ và những đốm tròn trên đuôi rõ nhất so với các loài gà mái khác cùng chi.

Gà tiền thường phát tiếng gáy kéo dài đặc trưng vào các giờ khác nhau trong ngày. Lúc chạy thường xòe cánh và ít khi bay lên cao. Gà sinh sản hầu như quanh năm. Mỗi lứa, gà mái thường đẻ hai trứng màu kem và ấp từ 22-23 ngày. Thức ăn bao gồm trái cây và côn trùng.

9. Gà tiền mặt vàng (Polyplectron bicalcaratum) phân bố từ vùng đông bắc đến sườn phía đông dãy Trường Sơn, thuộc tỉnh Bình Định. Tuy vùng phân bố rộng nhưng gà tiền mặt vàng hiện còn rất ít. Trên thế giới, gà tiền mặt vàng xuất hiện ở Miến Điện, Thái Lan, bắc Lào, Vân Nam và đảo Hải Nam ở Trung Quốc. Có tổng cộng 5 phân loài; xét trên vùng địa lý, phân loài ở nước ta có lẽ là phân loài chuẩn phân bố ở Miến Điện và Lào Polyplectron bicalcaratum bicalcaratum.

Lông gà trống màu xám nâu. Mào màu nâu vằn trắng. Trên lưng, lông bao đuôi có vệt trắng xếp thành hàng. Cánh có nhiều sao tròn được bao ngoài bằng một vòng đen và một vòng trắng nhạt. Trên đuôi có nhiều sao lớn hình bầu dục màu vàng lục ngoài viền hung đỏ. Chân có hai cựa. Mắt trắng, da mặt vàng, chân xám. Gà mái gần giống gà trống nhưng kém mã hơn.

Sống định cư ở rừng, thích hợp là rừng già cây gỗ pha tre nứa trong các thung lũng hay chân núi đá. Sống đơn lẻ hoặc theo cặp. Kiếm ăn vào buổi sáng và chiều. Trưa bay lên cành cây thấp để nghỉ (thường đậu lên cây giang hoặc nứa đổ nằm ngang cao 3 m). Ngủ đêm trong bụi gian hoặc bụi cây. Trước khi bay lên cây ngủ thường kêu “kò kò …kọc, kò kò…kọc”. Gà tiền mặt vàng ăn quả mềm (đa, si, sung, vả) rụng trên mặt đất, các hạt cỏ dại và các loài động vật nhỏ (mối, kiến, giun, dế…). Mùa sinh sản từ tháng 3 đến tháng 5 hàng năm và thường nghe con trống gáy “koong kói koong kói”. Tổ làm trong hố đất nhỏ, nông và lót bằng lá khô. Mỗi lứa đẻ 2 trứng, vỏ màu vàng đất. Ấp 21 ngày. Con non mạnh khoẻ.

10. Gà lôi tía (Tragopan temminckii) phân bố ở Lào Cai, gần Sa Pa, nơi có rừng cây cối rậm rạp với độ cao từ 2000 – 3000 m so với mặt nước biển. Trên thế giới, loài này phân bố từ vùng đông bắc Ấn Độ, Miến Điện cho đến Trung Quốc. Tên được đặt theo nhà điểu học người Hà Lan Coenraad Jacob Temminck (1778-1858).

Đầu màu đen, mặt nạ màu xanh quanh mặt lan rộng vào mùa sinh sản; mào, cổ và ngực có màu đỏ-cam sẫm, một số con trống có cổ áo màu cam tươi; phần còn lại trên cơ thể màu đỏ thắm với những đốm xám ở ngực dưới và trên cánh, lưng và lông đuôi. Yếm màu xanh da trời với mảng đỏ-cam. Mắt nâu, mỏ đen, chân hồng. Gà trống non 1 năm tuổi nhìn chung giống gà mái nhưng kích thước hơi lớn hơn. Gà mái có thân trên màu hung đỏ cho đến nâu xám, với nhiều bông hình mũi tên màu khét sữa nhạt cho đến trắng xám. Cổ màu khét sữa cho đến trắng, với những vạch đen; thân dưới màu nâu nhạt với những đốm trắng và vệt đen lớn. Da quanh mắt có màu hơi xanh lam.

Gà lôi tía kiếm ăn và làm tổ trên cây. Thức ăn chủ yếu lá chồi, hạt và côn trùng. Trong môi trường nuôi dưỡng, gà trưởng thành vào năm thứ 2 và sinh sản vào cuối tháng 4 cho đến tháng 6 hàng năm. Mỗi lần đẻ từ 3 – 6 trứng và ấp trong 28 ngày.

Ghi chú
1. Gà tây Meleagris gallopavo (domestic turkey) đôi khi cũng được gọi nhầm là… “gà lôi”! Gà này xuất xứ từ Bắc Mỹ.
2. Gà sao Numida meleagris (helmeted guineafowl), còn gọi “gà trĩ” (rất dễ hiểu nhầm!), là giống ngoại nhập và không thuộc nhóm trĩ. Một số người nuôi gà này để lấy thịt.
3. Một số trĩ cảnh có nguồn gốc ngoại nhập, có lẽ từ Thái Lan hoặc Trung Quốc, chẳng hạn trĩ đỏ, trĩ trắng (có lẽ là trĩ đỏ bạch tạng), trĩ bảy màu vàngtrĩ bảy màu xanh, trĩ bảy màu đỏ. Đa số đều bị lai tạp, không nên lai với trĩ nội địa để bảo vệ nguồn gien thuần chủng.
4. Thông tin về gà lôi lam trắng lai với gà nhà:

Ngày 4.10.2008, tại bản Cựp – xã Húc Nghì, huyện Đak Rông, các chuyên viên về động vật rừng thuộc Chi cục Kiểm lâm Quảng Trị đã kiểm tra và xác nhận về sự tồn tại và phát triển của một con gà lôi lam trắng (động vật quý hiếm) được đồng bào Vân Kiều ở bản Cựp ấp nở. Bà con sau khi nhặt được 3 quả trứng trong rừng đã nuôi trưởng thành được gần 3 năm tuổi. Đây là gà lôi trống, dân bản nói rằng nó vẫn sống chung và giao cấu với gà mái nuôi trong bản, vì thế hiện có rất nhiều gà ở đây lai giống gà lôi. Kết quả lai này cho sản phẩm “gà nhà” ở bản Cựp thịt ăn thơm và ngon hơn nhiều so với gà nuôi thuần chủng trước đó.

Tham khảo
http://vi.wikipedia.org/wiki/Danh_m%…%E1%BB%87t_Nam
http://en.wikipedia.org/wiki/Pheasant
http://www.gbwf.org/pheasants/
http://vncreatures.net/hinhanh.php?p…loai=1&nhom=0&
http://220.231.117.38/bc/index.php?o…=194&Itemid=56

Sưu tầm

 
 

Thẻ: , , ,

Phân biệt màu sắc ở gà

Chúng ta không phải ai cũng phân biệt và định nghĩa màu sắc lông gà đúng, bài viết dưới đây sẽ cho các bạn cái nhìn khái quát về màu sắc thường gặp ở bộ lông gà. Cùng đọc nhé!

ím (lavender)
Màu tím lavender gắn liền với một gien khiến cho lông cánh và lông đuôi bị xoăn và xơ xác. Rất ít gà lavender có bộ lông đẹp.



Khét sữa (buff)
Khét sữa là tông màu giữa cam và vàng.



Chocolate (dun)
Chocolate có tông màu nâu. Màu này là kết hợp của ô (Choc) và ka-ki (choc). Lai chocolate X chocolate = 50% chocolate, 25% ka-ki và 25% ô.




Ka-ki (khaki)
Màu này thường xuất hiện trong bầy chocolate. Lai ka-ki với ô sẽ thu được 100% chocolate.



Xám khô (blue)
Xám khô là xám có sắc xanh, còn gọi là xám tro. Tương tự như chocolate, xám khô là kết hợp của ô (bl) và tóe (Bl). Lai xám khô X xám khô = 50% xám khô, 25% tóe và 25% ô.



Tóe (splash)
Tóe là dạng màu xám có ẩn hiện sắc đen, trông lốm đốm, còn gọi là xám bùn. Màu này thường xuất hiện trong bầy xám. Lai tóe với ô sẽ thu được 100% xám khô.




Chuối tro (birchen/gray)
Chuối tro thường xuất hiện trong bầy gà chuối. Sự phát triển của hắc sắc tố tạo ra màu xám ở lông bờm và lông mã. Đây là màu xám thực sự, không có sắc xanh như xám khô.


———————————————————————————-

Bướm (pyle)
Gà bướm là gà trắng pha lẫn các màu đỏ, vàng và đen ở lông bờm, lông mã và cánh. Màu trắng ở gà bướm là màu trắng ngà, hanh vàng, được tạo ra bởi gien bướm (bất toàn), khác với gien tạo ra màu trắng tinh ở gà nhạn (lặn).


Nhạn úa
Gà nhạn úa là gà bướm với màu trắng toàn thân hoặc nhiễm rất ít màu đỏ, đen. Bởi màu trắng của gien bướm là trắng ngà, hanh vàng nên mới gọi là “úa”.

Nhạn (white)


Sưu tầm

 

Rosecomb – gà đeo khuyên bạc!

Rosecomb – gà đeo khuyên bạc!
Katherine Plumer – www.rosecomb.com

Lịch sử

Như những giống gà khác, có nhiều tranh cãi về nguồn gốc của giống gà rosecomb. Một số người cho rằng rosecomb là những con gà tre gốc, chẳng hạn như Bejach (1992), phát biểu rằng “Gà tre rosecomb có lẽ là con cháu trực hệ của cặp gà tre đầu tiên trên thế giới”. Những người khác cũng ủng hộ giả thuyết này, chẳng hạn như McGrew (1905), tuyên bố rằng “Nankin và rosecomb là những giống gà tre cảnh xuất hiện sớm nhất trên thế giới”. Ông cũng đưa ra ý tưởng rằng gà rosecomb chẳng qua là phiên bản tí hon của gà hamburg. Robinson (1924) cũng hỗ trợ cho quan điểm này khi giải thích rằng gà rosecomb ô và nhạn là phiên bản gà hamburg tí hon, và có lẽ xuất xứ từ Hà Lan. Nhưng cũng có ý kiến khác cho rằng “Gà tre gốc (tức rosecomb) xuất xứ từ đảo Java” (Bejach, 1992). Các biến thể ô và nhạn ở gà tre rosecomb được trưng bày lần đầu dưới tên “african” (tức “dân nhọ”) vào năm 1849, và thậm chí vào năm 1904 tại Hội chợ Thế giới tổ chức ở St. Louis (Ibid). Tuy nhiên, dẫu mang tên “african”, không có cơ sở nào cho thấy gà rosecomb xuất xứ từ châu Phi. Nguồn gốc được công nhận rộng rãi nhất, ít ra là với Hiệp hội Gà tre Mỹ (American Bantam Association) như trong bản Tiêu chuẩn Gà tre (Bantam Standard), đó là gà rosecomb xuất xứ từ Anh quốc, có lẽ từ năm 1493.

Ban đầu, từ “rosecomb” không ám chỉ bất kỳ giống gà riêng biệt nào, mà là tên chung của một số giống gà có dạng mồng trà. Mồng trà vốn được gọi là “mồng đôi” (double comb) để phân biệt với “mồng đơn” (single comb, tức mồng lá) của những giống gà khác. Những cá thể gà rosecomb đầu tiên có mồng chưa hoàn hảo và quá nhiều màu đỏ trên tai, và “theo một số nguồn đáng tin cậy, nhiều cá thể được chỉnh sửa hơn là lai tạo” (Bejach, 1992). Người trưng bày thường che đậy màu đỏ ở vành tai bằng màu trắng nhân tạo. Một số nghệ nhân chơi gà hồi đó thường “tỉa” mồng thành hình dạng thích hợp. Tôi nghe nói có nhà lai tạo cũng làm như vậy, hầu hết tố cáo đều xuất phát từ những người mua các con gà xinh đẹp này, chỉ để phát hiện rằng mồng của bầy con không như họ mong muốn.

Đương nhiên, gà rosecomb đã trải qua vô số cải tiến kể từ những ngày đầu tiên xuất hiện trước công chúng. Phần lớn công lao cải thiện giống gà đều nhờ những nhân vật người Anh. Enoch Hutton làm việc với giống gà trên bốn mươi năm, và đạt được những tiến bộ đáng kể trong việc cải thiện chúng. Ông lai biến thể nhạn và ô với nhau để đạt được chất lượng tốt nhất ở mỗi dòng. Ông cũng đưa những con gà trống hamburg ô cỡ nhỏ vào chương trình lai tạo, để cải thiện cả hai dòng và chất lượng lông của rosecomb. Tương tự, G.H. Pickering cải thiện rosecomb bằng việc lai mái nhạn với trống hamburg ô. Ông chọn trống hamburg thay vì trống rosecomb bởi vì vào thời đó, chất lượng lông và tai của gà hamburg tốt hơn đa phần gà rosecomb (Bejach, 1992). Vào năm 1483, ông sở hữu một lữ quán ở Anh và nuôi một bầy nhỏ gà rosecomb. Có lẽ, vua Richard III thường ở trọ trong lữ quán của ông nơi ngài để ý đến lũ gà với vành tai nổi bật và bắt đầu nuôi vài con. Điều này, dĩ nhiên, khiến chúng trở nên rất phổ biến trong giới quý tộc Anh thời đó, và sự phổ biến này được duy trì cho đến tận ngày nay (Ahiers, 1992). Mặc dù, nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của giống gà còn chưa rõ ràng, bạn có thể đoan chắc rằng nó không hề có yếu tố thương mại. Hầu hết mọi người lai tạo chúng để triển lãm, hay chỉ để “làm cảnh” quanh nhà.

Gà rosecomb có lịch sử triển lãm tương đối lâu dài. Người ta trưng bày chúng lần đầu tại Triển lãm Boston lần thứ nhất vào năm 1849 (Bejach, 1992) rồi chúng tiếp tục xuất hiện từ đó cho đến ngày nay. Dẫu thay đổi tùy triển lãm hay khu vực, số lượng rosecomb trưng bày ngày càng nhiều khi giống gà trở nên phổ biến. Theo Jeffrey (1979), hai mươi ba con rosecomb được trưng bày tại Triển lãm New York 1893, trong khi sáu mươi con được trưng bày tại Triển lãm New York 1903. Những triển lãm ngày nay có thể có từ nửa tá đến vài trăm con rosecomb tùy quy mô. Gà rosecomb cả trong quá khứ lẫn hiện tại được cải thiện cho mục đích triển lãm. Người ta nuôi và trưng bày gà đơn giản bởi vì họ thích vẻ bề ngoài của chúng. Tiêu chuẩn Gà tre liệt rosecomb vào một trong mười giống gà phổ biến nhất ở Mỹ. Chúng ngày càng phổ biến, nhưng dường như có nhiều nhà lai tạo ở bờ đông hơn là ở bờ tây nước Mỹ.

Nhiều người gặp khó khăn khi lai tạo gà rosecomb, và có rất nhiều nguyên nhân gây ra điều này. Tỷ lệ thụ tinh dường như luôn thấp ở gà rosecomb, mà chủ yếu bắt nguồn từ việc lai cận huyết quá sâu giữa các dòng trong nỗ lực bảo tồn giống gà. Trong nhiều năm qua, nhiều nhà lai tạo mà tôi biết đã lai xa với những dòng gà khác, chấp nhận thu về chỉ hai hay ba con mỗi năm (theo kinh nghiệm của tôi). Theo tôi đến nay, việc lai xa ít ra cũng đem lại những kết quả tuyệt vời <tham khảo Sự thụ tinh kém ở gien mồng trà>.

Tỷ lệ nở cũng có xu hướng thấp ở gà rosecomb và lý do duy nhất mà tôi được biết đó là phôi đặc biệt nhạy cảm với độ ẩm. Tôi nghe nói nhiều người gặp trường hợp này: phôi chết vào ngày ấp thứ mười bảy hay mười tám. Có lẽ nguyên nhân ở chỗ lồng ấp quá ẩm, nhất là vào giai đoạn nở, khiến gà con chết sặc bên trong vỏ. Giả sử gà có nở được, tôi thấy tốt nhất để chúng nở sớm trước mùa đông bởi chúng cần một thời gian dài để phát triển và ra lông đầy đủ.

Những người chơi gà rosecomb sẽ nói rằng chúng là những con gà đẹp nhất trên đời và vâng, có lẽ họ nói đúng . Nếu bạn chưa có con nào thì có lẽ đây là lúc bạn thử nuôi vài con gà xinh đẹp có nguồn gốc lâu đời này. Nào ta cùng nuôi gà đeo khuyên nhé!

Biến thể

Ô (black)

Điều (Black Breasted Red)

Điều nâu (Brown Red)

Điều xám (Blue Red)

Xám (Blue)

Xám mã đồng (Blue Brassy Back)

Đen mã đồng (Brassy Back)

Vàng xám (Lemon Blue) 

Bông (Mottled)

Bướm (Red Pyle)

Tóe (Splash) 

Nhạn (White)

Tiêu chuẩn

Trọng lượng

Gà trống: 740 gram
Gà trống tơ: 625 gram
Gà mái: 625 gram
Gà mái tơ: 570 gram

Hình dáng gà trống

MỒNG: trà — phía trước vuông vức, thắt dần đến gốc gai, nằm vững chắc và cân đối trên đầu. Bề mặt phải đều với những gai nhỏ và không có lỗ. Gai phải tròn từ gốc lên đến chóp (không được dẹp!), dài, thắt nhỏ dần, và hơi nhỏng lên.

MỎ: ngắn, mạnh và hơi cong.

MẶT: mịn màng – không có nếp nhăn, gấp hay râu ria.

MẮT: sáng, linh hoạt và to.

TÍCH: chắc, rộng, mịn màng, tròn trĩnh và không có nếp nhăn hay gấp.

TAI: sáng, bằng phẳng và cực kỳ tròn trĩnh. Trơn láng và đồng nhất, và nằm sát đầu. To so với kích thước của gà.

ĐẦU: trung bình, ngả về sau một cách kiêu hãnh.

CỔ: cong đều, nhỏ dần lên đến đầu và “nở” tại gốc.

BỜM: nhiều và phủ duyên dáng lên vai và lưng.

LƯNG: khá ngắn và rộng tính từ vai đến đuôi, trông hơi võng. Điểm nối với đuôi không bị gãy.

MÃ: nhiều và dài. Lông mã phủ đầy giữa chóp cánh với hông.

ĐUÔI: lông đuôi–góc 40 độ với đường ngang, dài nhưng không vượt quá lông phụng. Lông to. Lông phụng–to, dài và thật cong. Lông phụng thứ–rộng, nhiều và cong. Lông bao đuôi–nhiều và hơi cong.

CÁNH: dài, gọn gàng với chóp nằm ở khoảng giữa phía sau đùi, nhưng không xệ quá gối.

NGỰC: đầy đặn, tròn, hơi ưỡn và hướng ra trước. Nên vượt quá đường thẳng đứng kẻ từ chóp mỏ.

THÂN & HÔNG: thân–ngắn nhưng nở nang. Hông–phẳng, rộng và dày. Lông ngắn và dày.

CHÂN & NGÓN: chân–ngắn, khoảng cách vừa phải và song song với nhau. Chân phải ở chính giữa thân, ngay dưới lưng. Đùi–ngắn, mập ở trên và thóp dần đến gối. Cẳng–khá ngắn, tròn, trơn láng, vảy đều. Cựa–nhỏ, mịn, đóng thấp. Ngón–bốn ngón, thẳng, vảy đều và đẹp.

DÁNG VẺ: kiêu hãnh, cảnh giác, duyên dáng, lưng thể hiện một đường cong liền lạc từ cổ đến đuôi.

Hình dáng gà mái

*để tránh trùng lắp, phần nào không viết ra sẽ tương tự như gà trống*

CỔ: dài trung bình, tóp dần và cong đều.

BỜM: nhiều, phủ duyên dáng lên vai và lưng.

MÃ LẠI: lông nhiều, đầy đặn.

ĐUÔI: Gọn gàng, đầy đặn, dài, to và làm thành một góc 35 độ với đường ngang. Lông đuôi–rộng, dài. Hai lông trên cùng hơi cong. Lông bao đuôi– rộng, rất dài, chảy theo đuôi.

DÁNG VẺ: cảnh giác, duyên dáng và hoạt bát, lưng thể hiện một đường cong liền lạc từ cổ đến đuôi.

Đặc điểm loại

1) Gà trống tơ và mái tơ lem trắng ở mặt.
2) Mồng mấp mô hay cong theo dáng đầu.
3) Gai ngược.
4) Không gai.

Lỗi

1) Mồng thịt, lõm, lỗ hay quá to.
2) Gai dẹp hay không tròn.
3) Gai ngắn và gãy.
4) Mặt đen là lỗi NGOẠI TRỪ biến thể chuối xám (birchen) và điều nâu (brown red).
5) Lem trắng ở mặt.
6) Tai quá mỏng, trông căng phồng, có đĩa hay lỗ chính giữa.
7) Đầu nhỏ và hẹp.
8) Cổ không đủ dài, thẳng hay quá mảnh mai.
9) Lưng dài và/hay hẹp.
10) Ngực nông và/hay hẹp.
11) Lông đuôi hay lông phụng nhỏ, xệ quá thấp, hay có bề ngoài bù xù.
12) Đường gãy tại điểm nối giữa lưng và đuôi.
13) Cánh quá bó, quá xệ hoặc quá cao.
14) Lông quá xơ xác, dài, nhỏ và/hay xù (hay lông quá bó và ít).
15) Dáng vẻ kềnh càng.
16) Xương thô.
17) Dáng vẻ bất cân bằng ở phía trước và bù xù ở bên hông, trông giống như gà Lơ-go và Sumatra).

MÀU GÀ TRỐNG VÀ GÀ MÁI
*Tất cả các biến thể đều phải có tai trắng*

Thang điểm

TÌNH TRẠNG THỂ CHẤT (mọi biến thể): 10

TRỌNG LƯỢNG (mọi biến thể): 4

ĐỘ CÂN ĐỐI (mọi biến thể): 4

MỒNG (mọi biến thể): 9

TỔNG ĐIỂM: 100

Sưu tầm

 
 

Thẻ: , , ,

Phương pháp xác định giới tính gà bằng cách xem huyệt

Phương pháp xác định giới tính gà bắt nguồn từ nhu cầu về phân biệt giới tính của gà đẻ và gà thịt. Khác biệt về trọng lượng giữa gà trống và gà mái được ghi nhận nhưng chỉ có ý nghĩa thống kê.

Vấn đề được nêu ra vào năm 1923 bởi L. C. Dunn, như sau “sự thiếu vắng những phương pháp phân biệt dẫn đến việc phải nuôi cả ngàn cá thể cho đến khi các đặc điểm giới tính lộ rõ, chỉ khi đó gà trống mới bị giết thịt và đem bán, còn gà mái được tách riêng và nuôi để lấy trứng”.

Càng tách sớm thì càng tiết kiệm, và đã có nhiều nỗ lực bỏ ra để phân biệt trứng. Thử thách này đã có từ thời Aristotle, người cho rằng trứng dài hơn nở ra gà trống, trong khi khoảng 2 thế kỷ sau Pliny lại dự đoán ngược lại. Cả hai ý kiến đều được chứng minh là sai bởi M.A. Jull, người kết luận rằng cả hình dạng lẫn trọng lượng đều không thể hiện đặc điểm giới tính.

Thiết bị dò giới tính

Nhu cầu phân biệt giới tính gà với tiền công hấp dẫn làm nảy sinh những thứ tào lao gọi là “thiết bị dò giới tính” (sex detector).

Có một loạt trường hợp theo đó “thiết bị” được treo trên đầu dây và con lắc đung đưa bên trên trái trứng để phát hiện giới tính. Nhiều dụng cụ được Bộ nông nghiệp Mỹ kiểm tra và thấy vô tác dụng. Điều này dẫn đến việc ngăn cấm bởi U.S. Mails và các công ty không được phép hoạt động. Tuy nhiên, họ cũng tạo ra một đám mây ngờ vực về phương pháp phân biệt giới tính mà về sau nó đã thất bại.

Vào năm 1924, có một nhà nghiên cứu trẻ tại Đại học hoàng gia Tokyo đang say mê nghiên cứu sự phát triển của bộ phận được cho là cơ quan giao cấu đực (male copulatory organ) ở gà. Tiến sĩ Kiyoshi Masui xuất bản phát hiện của ông cùng với tiến sĩ Juro Hashimoto và Isamu Ono vào năm 1925. Phát hiện đáng ghi nhớ này đã phá vỡ định kiến rằng gà không có bộ phận này. Đặc điểm nhận diện chính dựa vào mấu đực (male eminence) hay còn gọi là mấu dương vật (phallic knob). Khó khăn ở chỗ làm thế nào để nhận diện vùng kiểm tra bằng mắt thường.

Dưới đây là hình minh họa huyệt và mấu của gà.


Minh họa bởi Jean E. Hirsch (Canfield, 1950).

Các nhà nghiên cứu nhận thức được tầm quan trọng của phát hiện này, công bố phương pháp với nhiều chi tiết sát thực tế. Sau đó, Manabu Kojima người tự nghiên cứu từ hướng dẫn của các nhà khoa học Tokyo và Yuzo Sakakiyama, chủ trại ấp, đã khiến phương pháp trở nên thực tế. Phương pháp Nhật Bản, còn gọi là phương pháp quan sát huyệt (vent method), phụ thuộc vào khả năng xác định những khác biệt giải phẫu nhỏ ở huyệt hay hậu môn của gà một ngày tuổi khi bóp vào bụng chúng. Cần khéo léo khi bóp mà không gây tổn thương, và sự chính xác cũng như tốc độ sẽ đạt được thông qua thực hành.

Phương pháp rất hoàn hảo về sự chính xác và tốc độ, và các khóa huấn luyện được mở dưới sự hướng dẫn của Hiệp hội Phân biệt Giới tính Gà Nhật Bản. Một trường hợp dẫn chứng cho phương pháp được đăng tải vào năm 1928 theo đó, một thiếu nữ được ghi nhận làm việc với tốc độ từ 30 đến 50 con mỗi phút. Ban biên tập yêu cầu độc giả thử nghiệm phương pháp và phản hồi kết quả. Vào năm 1933, một loạt kết quả kém khích lệ và một trường hợp khẳng định công trình của Masui được ghi nhận.

Vào năm 1932, Masui và Hashimoto công bố bài viết thứ hai về phương pháp. Kojima đã phát hiện rằng một số gà mái có hình thức tương tự như gà trống. Masui nghiên cứu tần suất của những dạng này và tính được xác xuất chính xác lên đến 98%. Trong một thử nghiệm với 12 chuyên gia hàng đầu, phương pháp chứng tỏ độ chính xác trung bình lên đến 97.8%. Ông cho rằng thật may khi sai số nhận diện mái thành trống nằm ở mức cho phép. Do đó, kỹ thuật này coi như đã hoàn chỉnh và có thể áp dụng.

Dưới đây là các biến thể được ghi nhận. Cột bên trái của gà trống. Cột bên phải của gà mái.


Minh họa bởi Jean E. Hirsch (Canfield, 1950).

Áp lực suy thoái

Vào thời kỳ Đại Suy Thoái những năm 1930, mục đích giảm cắt giảm chi phí khiến Bắc Mỹ quan tâm đến phương pháp Nhật Bản. Một số người Hoa và Nhật làm dịch vụ một cách độc lập, chủ yếu ở khu vực Bờ Tây.

Vào mùa xuân năm 1933, nhận lời mời của E. A. Lloyd, Tokuzo Yamaguch, người sau này trở thành cộng tác viên của tờ Japanese Poultry Journal, và chuyên gia phân biệt giới tính Hikosaburo Yogo đến đại học British Columbia. Họ thuyết trình và hướng dẫn thực hành bằng việc phân biệt giới tính 23.400 con gà trong vòng 4 ngày. Độ chính xác lên đến 98.7% và 97.8% chia làm hai mẻ. Đợt thực hành ở quận Strawberry Hill, British Columbia là trường hợp đầu tiên được ghi nhận ở Mỹ. Tỷ lệ tử vong (5%) thấp hơn so với trường hợp không phân biệt giới tính (15%).

Sau đó, họ mở lớp huấn luyện tại Cloverdale, British Columbia. Yogo, cùng với Yamaguch và Hiroji Takahashi thuyết trình tại Hội nghị Gia cầm Quốc tế ở Grand Rapids, Michigan vào tháng 8 năm 1933 mà ở đó họ nhận được sự quan tâm của công luận. Tiếp theo là các buổi thuyết trình ở Washington, Oregon và California.

Cuốn “Phân biệt giới tính gà con” (Sexing Baby Chicks) của Masui và Hashimoto được dịch sang tiếng Anh vào năm 1933. Everton A. Lloyd, giáo sư chăn nuôi gia cầm tại Đại học British Columbia đã ghi chú như sau “Bây giờ, sau khi hưởng lợi từ kiến thức và kinh nghiệm của người khác, người Nhật, qua các chuyên gia và báo cáo khoa học của mình, đã đem đến cho phần còn lại của thế giới một dịch vụ mới, gọi là phân biệt giới tính gà”. Tình thế dẫn đến việc chuyển giao kỹ thuật vốn không đòi hỏi dụng cụ hay vật liệu gì đặc biệt và không đăng ký bằng sáng chế.

Chương trình huấn luyện

Việc chuyển giao được thực hiện mà không có các chuyên gia phân biệt giới tính (sexer) người Nhật bởi luật nhập cư. Năm 1932, Motojiro Hattori, một chủ trại ấp ở Fresno, xin được giấy phép để đưa 4 chuyên gia phân biệt giới tính người Nhật sang huấn luyện cho các Nhật kiều và Mỹ trắng. Một trong những học viên, Kiyoto Saiki, đến Nagoya vào năm 1935 để nâng cao kiến thức và trở về để trở thành trưởng nhóm hướng dẫn tại trường đào tạo Hattori, sau trở thành Hiệp hội Phân biệt Giới tính Gà Quốc tế. Một học viên khác, Clyde Goto, thành lập Hiệp hội Phân biệt Giới tính Gà Nam California.

Tiến sĩ Morley A. Jull tại Bộ nông nghiệp Mỹ (USDA) nắm nhiệm vụ giám sát việc chuyển giao kỹ thuật phân biệt giới tính. Để kiểm tra phương pháp, ông tuyển dụng 4 kỹ thuật viên từ nhân sự ở Beltsville và chứng minh rằng tỷ lệ 92% có thể đạt được thông qua huấn luyện. USDA xây dựng các hướng dẫn và mô hình để minh họa.

Một số khóa huấn luyện đầu tiên được tổ chức ở Kent và Bellingham, Washington, và Petaluma, California. Chi phí khóa học ở Petaluma trong thời gian 3 tháng là 500 đô la, một giá đắt đỏ vào thời đó. Nhiều học viên được các trại gà tài trợ. Mọi người được huấn luyện các nguyên tắc cơ bản một cách gấp rút rồi được gửi đi làm trong ngành công nghiệp. Tuy nhiên, vì phải giữ bí mật thương mại và thiếu kinh nghiệm, kết quả ban đầu của họ khiến phương pháp phải mang tiếng xấu trong số những trại ấp gà Mỹ.

Một số những học viên ban đầu này về sau đạt được thành công trong sự nghiệp. Heimer Carlson, học viên khóa đầu tiên ở Petaluma năm 1934 phỏng đoán rằng ông phân biệt giới tính cho tổng cộng 56 triệu đầu gà và gia cầm trong cả đời mình. Gladys Hansey, học viên khóa đầu ở Bellingham, cùng với chồng trở thành chủ trại ấp.

Rất nhiều bản tin minh họa về phương pháp được xuất bản với mục đích tự học bởi Gibbs, Canfield, Forsyth, Shrader và Waldo. Hiển nhiên, một số người có thể tự học từ bản hướng dẫn.

Ở dưới là hình chụp từ bản tin của Canfield. Bên trên chỉ cách giữ gà. Bên dưới chỉ cách vén huyệt.

Nhiều người học hỏi lẫn nhau và phát triển kỹ năng thông qua việc thực hành ráo riết, trong khi những người khác học dưới sự hướng dẫn của các thành viên gia đình. Thời gian để đạt được sự chính xác và tốc độ thay đổi từ vài tháng đến vài năm.

Khó khăn nằm ở chỗ, mặc dù kiếm được nhiều tiền trong một thời gian ngắn, công việc đòi hỏi năng lực thực sự và do đó không dễ theo đuổi. Jeffrey và Thompson vào năm 1943 phát biểu “Hầu hết người nuôi và ấp gà không thể học phương pháp này và phải trả tiền để các chuyên gia thực hiện công việc”.

Không tiêu chuẩn chất lượng

Charles S. Gibbs khi còn trong ban giảng dạy tại Đại học Nam Kinh, Trung Quốc đã viếng thăm Nhật Bản 2 lần và học phương pháp từ các nông dân Trung Hoa. Khi trở về Mỹ, ông bắt đầu truyền dạy phương pháp và viết cuốn “Hướng dẫn phân biệt giới tính gà” (A Guide to Sexing Chicks) vào năm 1935, trong đó ông công nhận các nhà nghiên cứu người Nhật đã “nâng tầm nghệ thuật một công việc bình thường và khiến nó trở thành một phát hiện khoa học hữu ích cho toàn bộ ngành công nghiệp gia cầm thế giới”. Mô tả của ông về yêu cầu trình độ như sau “Bởi vì phân biệt giới tính không được xem là một ngành nghề ở Mỹ, và không có tổ chức nào giám sát tiêu chuẩn chất lượng, mọi người đều có thể tham gia. Kết quả không phải lúc nào cũng đạt mức yêu cầu. Do đó, nhà phân biệt giới tính thiếu kinh nghiệm không nên làm dịch vụ ở cấp độ thương mại, hoặc khuyến khích việc buôn bán gà không do các chuyên gia phân loại và ít ra phải đạt trình độ bằng cấp hạng nhất theo tiêu chuẩn Nhật Bản”.

Thời đó, những tiêu chuẩn này là có khả năng phân biệt giới tính cho 100 con gà lơ-go trong thời gian 30 phút với độ chính xác lên đến 92% sẽ đạt bằng hạng nhất. Bằng không, các học viên phải đạt bằng hạng nhì vốn đòi hỏi độ chính xác trên 86% và có chân trong Hiệp hội Phân biệt Giới tính Gà. Ứng viên muốn tham dự hiệp hội phải đạt độ chính xác trên 80% trong cùng điều kiện. Gibbs ghi nhận rằng học viên được đào tạo phù hợp có thể đạt tốc độ 1000 con mỗi giờ với độ chính xác lên đến 98%, một tiêu chuẩn vượt xa so với yêu cầu của ngành công nghiệp.

Mặc dù không có tiêu chuẩn Mỹ, một số chuyên gia được yêu cầu chứng minh năng lực theo luật cấp phép hành nghề của nhiều bang.

Ngành nghề nhận được định hướng cần thiết nhờ nhãn quan của S. John Nitta, người sinh ra ở Seattle, Washington và sau khi hoàn tất trung học vào năm 1933, đến Nhật và tham dự một lớp phân biệt giới tính gà. Ông tiếp tục học tập tại các trại gà ở đó và thu được nhiều kinh nghiệm. Trở về từ năm 1936, ông cộng tác với R. C. Parrish ở công ty Telsex, Ohio với vai trò giáo viên. Vào tháng 8 năm 1937, ông mở trường huấn luyện đầu tiên ở Los Angeles, với mục đích đào tạo các chuyên gia phân biệt giới tính cho thị trường và theo đó, thiết lập độ tin cậy và ổn định cho ngành nghề.

Vào năm đại họa 1938, ông thành lập Hiệp hội Phân biệt Giới tính Gà Mỹ và chuyển đến Lansdale, Pennsylvania để gần các trại ấp lớn. Trường học được chuyển đến năm 1942 và tiếp tục vận hành đến năm 1974, mặc dù nhu cầu về chuyên gia phân biệt giới tính vẫn còn và dẫu Nitta có quảng cáo tiềm năng của ngành nghề mạnh đến đâu, giới trẻ Mỹ không còn quan tâm đến công việc cực nhọc và đòi hỏi tập trung trong nhiều giờ mà tiền công lại chẳng bõ này. Tuy nhiên, chất lượng bằng cấp của Nitta vượt xa so với yêu cầu của ngành công nghiệp, và và khiến ông trở thành đại sư đầu ngành.

Những trường khác cũng được thành lập, chẳng hạn như Chester Pilch ở Hazardville, Connecticut vào năm 1939. Các khóa học được tổ chức bởi USDA, các trường cao đẳng nông nghiệp và lò ấp bởi nhu cầu về nhân sự quá lớn so với khả năng cung cấp.

Lợi ích của ngành phân biệt giới tính vẫn còn là vấn đề tranh cãi vào 1937-1938 nhưng vào năm 1948, tình thế đã như sau “Cả một thời gian dài bị người chăn nuôi ngờ vực, nhưng hiện được công nhận có lợi ích kinh tế”. Các trại ấp đảm bảo độ chính xác tối thiểu 95% và không có gà chết.

Một trong số những nỗ lực để giúp thực hiện công việc dễ dàng là máy Chicktester* từ Nhật mà nó tương tự như dụng cụ mà các bác sĩ dùng để kiểm tra tai bệnh nhân. Nó có một ống thủy tinh nhỏ áp vào huyệt và chuyên gia quan sát trực tiếp qua kính phóng đại. Người ta tuyên bố rằng với khóa huấn luyện kéo dài một tuần, một người có thể phân biệt 300 con mỗi giờ với độ chính xác 100%. Nỗ lực giới thiệu máy này vào đầu những năm 1950 với mục đích thay thế cho các chuyên gia đã không thành công, nhưng lại tỏ ra hữu dụng trong một số trường hợp khi tốc độ và số lượng không phải là ưu tiên hàng đầu. Một dụng cụ tương tự gọi là Sortisex** từ Đức được quảng cáo có thể phân biệt đến 800 con mỗi giờ.

Những đặc điểm liên quan đến giới tính khác cũng được kết hợp với phương pháp xem huyệt như màu mỏ, lông tơ hay lông cánh, màu chân…

Thời hạn thực hiện và yêu cầu hoàn tất công việc trong vòng 24 giờ khiến một ngày làm việc rất dài vào các buổi chủ nhật-thứ hai và thứ năm-thứ sáu. Công việc cũng diễn ra theo thời vụ từ tháng 2 đến tháng 6 trong giai đoạn phát triển của ngành công nghiệp, và rất nhiều chuyên gia làm việc bán thời gian.

Hầu hết chuyên gia làm việc tự do thông qua một tổ chức, nơi cung cấp dịch vụ cho các trại ấp. Một nỗ lực cơ cấu ngành nghề được thực hiện khi Liên đoàn Chuyên gia Phân biệt Giới tính Gà được thành lập vào năm 1968, nhưng bị giải tán sau đó một thập kỷ.

Biến động về kinh tế khiến số lượng chuyên gia giảm dần. Trong những năm 1930, tiền công phân biệt hộp gà 100 con từ 50 cent đến 1 đô la. Vào năm 1968, nghe nói tiền công còn thấp hơn hồi 1933, năm bắt đầu cuộc Đại suy thoái. Dẫu độ chính xác đã tăng từ 90% lên đến gần 100%. Các chuyên gia chỉ có thể bù đắp cho việc lạm phát bằng cách gia tăng tốc độ làm việc. Lương bổng kém cũng ngăn cản lớp trẻ tham gia vào ngành nghề cũng như thu hút các chuyên gia từ nước ngoài.

Ngành phân biệt giới tính phát triển từ việc loại bỏ trống lơ-go và giữ mái để lấy trứng và thịt, sang phân biệt giới tính gà tây. Trước đó là vịt và ngỗng.

Khó khăn khi chuyển giao kỹ thuật này, vốn không đòi hỏi dụng cụ đặc biệt, nằm ở chính sách. Đấy là chưa nói đến yếu tố rủi ro cũng như học phí. Biến động chính trị trong 1/4 thế kỷ kèm theo cuộc biểu tình ở Vancouver đã hạ thấp tầm quan trọng của các chuyên gia Nhật, và các Nhật kiều tự động rời khỏi khu vực Bờ Tây hay vào các khu “tái định cư” khi Thế Chiến II nổ ra. Mặc dù tự thân phương pháp không có gì xúc phạm người khác, ngành nghề được mô tả như là quân phiệt Nhật vào năm 1942, từ ngữ thực tế là “tụi Nhật” (Japs), một từ khinh miệt để gọi kẻ thù vào thời đó. Do tính chất ngành nghề, vốn đòi hỏi phải di chuyển rất nhiều, nhiều chuyên gia bị chính quyền địa phương bắt bớ. Mặt khác, nhờ giá trị công việc của họ, Cơ quan Tái Định cư đã bảo lãnh cho một số người đi làm việc. Mãi cho đến năm 1951, các chuyên gia người Nhật mới được chấp nhận ký hợp đồng làm việc nhưng chỉ ngắn hạn.

Tiến bộ trong lai tạo cho phép các trại ấp phân biệt giới tính theo màu sắc và lông để gia tăng số lượng. Chỉ cần huấn luyện sơ, một nhân công thường cũng có thể phân biệt 2500 con mỗi giờ với sai số cho phép. Các chuyên gia phân biệt giới tính vẫn được thuê vào các công việc chọn giống.

Hiển nhiên, các chuyên gia phân biệt giới tính đã góp phần vào sự phát triển của ngành công nghiệp gia cầm. Sự phát triển của thị trường đã vượt ra ngoài khuôn khổ cung cấp trứng và thịt, có rất nhiều nhu cầu khác nhau về các sản phẩm liên quan đến gia cầm. Mục đích vốn không thể thực hiện được thì nay đã hiện rõ, đó là, một phương pháp thực tế để xác định giới tính ngay từ trong trứng.

Qua tìm hiểu về các phương pháp xác định giới tính gà, chúng tôi thấy có hai cách đáng tin cậy với tỷ lệ chính xác cao bao gồm: lai tạo theo đặc điểm giới tính (sex-link) và xem huyệt (vent sexing). Lai tạo theo đặc điểm giới tính nghĩa là tận dụng các đặc điểm gắn liền với giới tính và lai làm sao để mái và trống khác nhau một cách rõ rệt. Một ví dụ phổ biến mà chúng ta thường thấy trên mạng là lai theo đặc điểm phát triển lông cánh. Gà mái: lông cánh mọc nhanh, dài và so le, gà trống: lông cánh mọc chậm, ngắn và đều. Người bình thường chỉ cần coi sơ là xác định được, chẳng cần đến trình độ chuyên gia. Tuy nhiên, sự khó khăn nằm ở phần lai tạo, bạn phải có các dòng gà thuần, cụ thể là các dòng gà lông cánh mọc nhanh và lông cánh mọc chậm. Điều kiện như vậy chúng ta không hề có (trừ phi bạn nhập gà giống). Sẽ nhầm lẫn khi cho rằng có thể áp dụng công thức xem cánh cho bất kỳ bầy gà nào!

Như vậy, phương pháp khả thi nhất dành cho người nuôi gia cầm ở ta là xem huyệt. Thông thường, học viên phải tham dự các khóa huấn luyện và thực hành trước khi đạt mức thành thạo. Theo tiến sĩ Nakayama “Hầu hết người nuôi và ấp gà không thể học phương pháp này và phải trả tiền để các chuyên gia thực hiện công việc”. Tuy nhiên, ông cũng khẳng định nhiều người có thể tự học một cách thành công qua hình ảnh và tài liệu. Dưới đây là một số thông tin mà chúng tôi sưu tầm được, hy vọng có thể giúp ích cho các bạn.

Thao tác

Gà con mới nở sau vài giờ được đem ra lựa. Học viên giữ gà bằng tay trái (với người thuận tay phải) và bóp nhẹ để vắt phân dư trong ruột vào một ca nhựa, nhờ vậy việc quan sát sẽ thuận lợi hơn. Dùng tay phải, ấn nhẹ ngón cái và ngón trỏ để huyệt lòi ra. Bạn sẽ nhìn thấy mấu sinh dục (“eminence” hay “bead”) cỡ đầu cây kim. Cần xác định thật nhanh bởi ấn huyệt lòi ra quá lâu sẽ không tốt. Gà mái thường được thảy qua khay bên phải và gà trống khay bên trái (khay trống thuận tay hơn). Các thiết bị phụ trợ bao gồm đèn 200 W và kính lúp.

Hình mô tả cách giữ gà bằng tay trái và vén huyệt bằng tay phải.

Ấn nhẹ cho huyệt hơi lồi ra:

Video mô tả chuỗi thao tác: bắt gà, vắt phân, vén huyệt, xác định, thảy vào khay, phối hợp hai tay.

Post bài sai Image_2 Image_3

Mã nhúng vào blog : 

Biến thể

*Canfield (1941) liệt kê các biến thể mấu sinh dục sau khi nghiên cứu 10 ngàn cá thể ở một trại gà công nghiệp (mỗi bên 9 biến thể):
– Gà trống: a & b 64.32%, c 7.85%, d & d’ 0.58%, e & f 20.53% , g & h 3.41%.
– Gà mái: a & b 57.22%, c, c’ & d 16.98%, e & f 24.52%, g & h 1.27%.

*Carlson (1986) tái khẳng định khi đánh giá về gà trống: d’ “khá hiếm”, g “hiếm” và h “cực hiếm”. Với gà mái, a & e “bẹt chuẩn mực” và c’ “khó xác định nếu lồi nhiều”.

*Các dạng phổ biến nhất là a & b ở cả hai bên. Các dạng f & g ở gà trống dễ nhầm với gà mái (<25%). Các dạng c & c’ ở gà mái dễ nhầm với gà trống (<17%).

Quan sát

*Trước hết, bạn cần xác định hai vành hay thùy (lobe) ở phía dưới mỗi hình. Điểm khác biệt giữa trống và mái là mấu sinh dục. Nó nằm chính giữa hai thùy (1) hay hơi xích lên trên (2).

*Bây giờ bạn nghiên cứu đến mấu sinh dục. Ở gà trống, nó hơi tròn và căng lên như hòn bi.

*Ở gà mái, nó hơi nhọn như chóp cây thông hoặc bẹt.

*Thông thường, mấu sinh dục của gà trống to hơn. Đôi khi, mái hoặc trống có đến 2 mấu. Nếu rơi vào trường hợp khó xác định (thường hiếm), chúng ta có thể tách riêng và khảo sát kỹ lưỡng hơn.

*Qua thử nghiệm thực tế, sau khi được hướng dẫn như trên, học viên mới đạt tỷ lệ chính xác đến 84%.

Sưu tầm

 

Thẻ: , , , ,

Ảnh cũ post lại

Tìm hiểu về giống gà Serama tại link này: http://gatregacanh.wordpress.com/2012/04/20/tim-hi%E1%BB%83u-v%E1%BB%81-ga-serama/


Tìm hiểu về giống gà Serama tại link này: http://gatregacanh.wordpress.com/2012/04/20/tim-hi%E1%BB%83u-v%E1%BB%81-ga-serama/


Tìm hiểu về giống gà Serama tại link này: http://gatregacanh.wordpress.com/2012/04/20/tim-hi%E1%BB%83u-v%E1%BB%81-ga-serama/


Tìm hiểu về giống gà Serama tại link này: http://gatregacanh.wordpress.com/2012/04/20/tim-hi%E1%BB%83u-v%E1%BB%81-ga-serama/


Tìm hiểu về giống gà Serama tại link này: http://gatregacanh.wordpress.com/2012/04/20/tim-hi%E1%BB%83u-v%E1%BB%81-ga-serama/


Tìm hiểu về giống gà Serama tại link này: http://gatregacanh.wordpress.com/2012/04/20/tim-hi%E1%BB%83u-v%E1%BB%81-ga-serama/

 
Để lại bình luận

Posted by on 09/05/2013 in Album ảnh

 
 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.